Bìm bịp lớn-Centropus sinensis interme- dius Hume.
trị đau lưng, suy nhược của tuổi già
Không có thông tin thành phần hoá học
Bìm bịp lớn là một loại chim to vừa phải, định cư, suốt năm sống trong vùng làm tổ nhỏ hẹp của mình và không đi đâu xa. Nơi ở thích hợp với loài bìm bịp lớn là lùm cây, ven rừng có nhiều bụi cây rậm rạp, có thể gặp bìm bịp kiếm ăn ở đồng ruộng không xa các bụi rậm. Loài này làm tổ trong bụi cây rậm, thường là ở trong các bụi tre, cách mặt đất 1-2m, khi điều kiện không thuận lợi chim làm tổ cả ở những cành cây tương đối thưa lá. Tổ hình túi dài, miệng tổ hơi nghiêng về một bên. Mỗi lứa bìm bịp lớn để 3-4 trứng; trứng dài 37- 39mm, đường kính 29. 30mm. Bìm bịp lớn ăn cóc, nhái, rắn nhỏ, trứng chim, mối, cua đồng, cào cào, cánh cứng, ấu trùng chuồn chuồn, đôi khi cả hạt thực vật. Bìm bịp nhỏ ở những sườn đồi, chân núi có nhiều cỏ tốt và bụi cây nhỏ, làm tổ trong các bụi cây hay bụi rậm cách mặt đất im. Mỗi hóa đẻ 3-4 trứng, trứng dài 29-31mm, đường kính 23,8 25mm. Mùa đẻ từ tháng 4 đến tháng 7.
- Bìm bịp nhỏ ăn cả động và thực vật nhưng thức ăn chính là động vật: trong dạ dày bìm bịp nhỏ có côn trùng cánh cứng, cào cào, cá nhỏ, ốc, mới, kiến, nhái, cánh hoa và hạt cỏ đại.- Bìm bịp lớn ở khắp vùng đóng bằng, vùng trung du và vùng núi ở độ cao dưới 600m, còn thấy ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Trung Quốc (Hải Nam và Văn Nam).
- Bìm bịp nhỏ gặp ở vùng trung du và vùng núi không cao quá 800m. Còn gặp ở Ấn Độ Thái Lan, Miến Điện, Lào, Campuchia, nam Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Hải Nam). Chỉ thu bắt những bìm bịp sống hoang. Đem về làm thịt, bỏ lông, ruột, ngâm rượu.
Ngâm 2 con bìm bịp trong 1 lít rượu, có thể ngâm riêng hoặc phối hợp với tắc kè. Ngâm ít nhất 3 tháng.
Uống 2 lần/ngày, mỗi lần 25–30 ml rượu ngâm.
Không có thông tin lưu ý
Toàn thân (làm thịt, bỏ lông và ruột, ngâm rượu).
Cyprinus carpio L.
Cá chép có vị ngọt, tính bình, có tác dụng lợi niệu, hạ khí, tiêu thũng, an thai, thông sữa, giảm ho suyễn. Vảy cá tính bình, cầm máu. Mật cá có vị đắng, tính lạnh, không độc, có tác dụng thông ứ, minh mục.
Không có thông tin thành phần hoá học
Thân dẹt, đầu và phần đuôi thuôn, vảy to và tròn, lưng hơi gù, miệng rộng, hơi hướng lên, mép có râu. Vây lưng có xương gai cứng, vây hậu môn có răng cưa, vây đuôi có 2 thùy nhọn xiên bằng nhau, đôi khi màu đỏ. Cá có kích thước trung bình dài 30- 50cm, nặng 1-2kg, con to có thể dài đến 1m, nặng hơn 10kg. Lưng màu thẫm (thường lục xám đen hay đỏ tím đen), bụng trắng.
Phù thũng: Cá chép 500-1.000g nấu với 150g rượu cái, ăn nóng.Vàng da, tiểu đường: Cá chép 1kg hầm đậu đỏ 50g, trần bì 6g, ớt đỏ 6g, thảo quả 6g, gừng, muối.An thai: Cháo cá chép với gạo nếp, a giao 100g, ăn 3 ngày.
Thịt 100-500g, vảy 10-200g, mật 5-10ml, 1-2 lần/ngày. Tham khảo thầy thuốc.
Phụ nữ mang thai dùng thận trọng, tránh lạm dụng.
Thịt, vảy, mật.
Carassius auratus L.
vị ngọt, tính ấm, không chứa độc tố. mật cá diếc có vị đắng, tính lạnh
Không có thông tin thành phần hoá học
Cá diếc là một loài cá nước ngọt phổ biến, có giá trị dinh dưỡng cao, thịt thơm ngon. Trong y học cổ truyền, cá diếc có tác dụng bổ dưỡng, lợi tiểu, tiêu thũng, thường được dùng trong các bài thuốc chữa phù thũng, viêm thận, suy nhược cơ thể, sản phụ thiếu sữa.
bổ tỳ vị, lợi tiểu, tiêu thũng, làm se vết thương, sát khuẩn và giảm khát.
Dùng làm thuốc: Thịt cá diếc thường dùng 100 – 200 g/con (tươi), chế biến thành món ăn bài thuốc. Dùng dưới dạng khô: Cá diếc phơi khô, rang tồn tính, liều khoảng 10 – 20 g/ngày sắc với thuốc khác. Dùng ngoài (đắp): Giã nát thịt cá diếc trộn với dược liệu khác (như gừng, rượu) để đắp chữa nhọt lở.
Không dùng cho người có cơ địa nhiệt, táo bón, hoặc dị ứng với cá nước ngọt
Phần thịt cá được sử dụng chủ yếu, bên cạnh đó, mật cá cũng được dùng trong một số trường hợp.
Chinemys (Geoclemys) reevesii (Gray)
vị ngọt, mặn, tính hàn; quy vào 4 kinh: Thận, Tâm, Can, Tỳ.Bổ tâm thận, tư âm, mạnh gân xương, chữa thận âm hư, di tinh, đới hạ, băng lậu, lưng gối đau nhức, lỵ lâu ngày.
Không có thông tin thành phần hoá học
- Quy bản là yếm của rùa nước ngọt (Chinemys reevesii), phân bố rộng ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên.
- Yếm rùa được chế biến thành dược liệu “quy bản” và nấu thành “cao quy bản”.
- Trong y học cổ truyền, quy bản có vị ngọt, mặn, tính hàn, tác dụng bổ âm, bổ thận, mạnh gân xương, thường dùng chữa suy nhược, đau lưng, ho lâu ngày, sốt rét kinh niên, băng huyết, đới hạ, trẻ em yếu xương.
- Ngoài ra, còn có cao “nhị tiên giao” (nấu phối hợp quy bản + gạc nai + các vị thuốc bổ khác).
- Về mặt hóa học, quy bản chứa chất keo, chất béo, muối canxi và một số acid amin (glycocole, alanin, leucin, tyrosin, cystin, acid glutamic, histidin, lysin, arginin…).
Chữa ho lâu ngày: Quy bản sao cát, tán nhỏ 100g + Đảng sâm sao thơm 100g, trộn đều, uống ngày 3 lần, mỗi lần 1–2g. Chữa sốt rét lâu ngày: Quy bản 200g sao vàng, tán nhỏ; Hùng hoàng 50g; Hà thủ ô 200g; thêm mật ong, viên 0,3g. Uống ngày 5–10g chia 3 lần.
Quy bản: 12–24g/ngày (dưới dạng thuốc sắc, bột, viên). Cao quy bản: 10–15g/ngày, chia 3 lần uống.
Theo tài liệu cổ, những người không phải chứng thực nhiệt không dùng được - Người âm hư nhưng không có nhiệt không nên dùng. Cần phân biệt quy bản chế biến đúng (huyết bản, thang bản). - Một số bài thuốc có chứa khoáng chất độc (ví dụ hùng hoàng – As₂S₂), cần thận trọng, chỉ dùng theo chỉ định của thầy thuốc.
Quy bản: Yếm rùa phơi khô, có thể là “huyết bản” (đập chết lấy yếm) hoặc “thang bản” (luộc chín rồi lấy yếm). Cao quy bản: Được chế từ yếm rùa đun nhiều giờ, lọc bỏ bã, cô đặc thành bánh cao
Gekko gecko L.
Tắc kè có vị mặn, tính bình và hơi có độc. Vị mặn thường có tác dụng làm mềm, tán kết và đi sâu vào kinh mạch. Tắc kè được quy vào hai kinh Phế và Thận.
Protein, các acid amin thiết yếu và đặc biệt là chất béo với hàm lượng cao (khoảng 13-15%).
Về hình thái, chúng có cơ thể dẹt, đầu hơi bẹp và có hình tam giác. Lưng thường có màu xanh xám nhạt, điểm thêm các đốm vàng hoặc đỏ sáng, trong khi bụng có màu trắng đục với các chấm vàng. Một đặc điểm nổi bật là con đực thường có màu sắc rực rỡ hơn con cái. Da tắc kè khô, có vảy sừng bao phủ. Bốn chi của chúng dài và linh hoạt, đặc biệt là các ngón chân có lớp đệm dính, giúp chúng bám chắc và di chuyển dễ dàng trên nhiều bề mặt thẳng đứng như vách đá, thân cây hay tường nhà. Một cơ quan độc đáo khác là đôi mắt, có con ngươi thẳng đứng và có khả năng hoạt động độc lập, xoay 360 độ và quan sát theo hai hướng khác nhau cùng lúc. Loài tắc kè có khả năng thay đổi màu da để ngụy trang, giúp chúng hòa mình vào môi trường xung quanh một cách hiệu quả.
Tắc kè sống chủ yếu ở các vùng trung du và miền núi, thường ẩn mình trong các hốc cây, hốc đá hoặc các khe hốc của nhà gác cao, mái ngói ở vùng nông thôn Việt Nam. Chúng là loài săn mồi về đêm và phát triển tốt trong môi trường ẩm thấp, ít ánh nắng.
1. Thang Cáp giới (Trị ho hen lâu ngày, đờm có máu do Phế Thận lưỡng hư): Sắc các vị thuốc (Tắc kè 8g, tri mẫu 12g, bối mẫu 12g, tang bì 12g, hạnh nhân 12g, tỳ bà diệp 12g, đảng sâm 12g, cam thảo 4g) lấy nước, hòa với 12g cao ban long vào uống. 2. Bột Tắc kè bạch cập (Trị ho nhiều đờm, ho ra máu ở người cao tuổi): Tán bột (Tắc kè (1 đôi), bạch cập 100g), uống 15g/lần, 2 lần/ngày với nước sôi và mật ong, dùng liên tục 20 ngày. 3. Nhân sâm Cáp giới tán (Trị ho suyễn lâu ngày, đờm có máu mủ, người gầy yếu): Tắc kè (1 đôi), hạnh nhân, cam thảo, nhân sâm, phục linh, bối mẫu, tang bì, tri mẫu (liều lượng cụ thể tùy bài thuốc). Tán bột mịn, uống 6-8g/lần, 2 lần/ngày. 4. Rượu tắc kè (Bổ thận tráng dương, trị di tinh, liệt dương, đau lưng, mỏi gối, suy nhược thần kinh): 2-5 con tắc kè đã sơ chế, ngâm với 1 lít rượu trắng 35-40 độ. Có thể thêm trần bì để khử mùi tanh. Ngâm ít nhất 7-10 ngày. Uống 15-30ml/lần, 1-2 lần/ngày. 5. Cháo tắc kè (Bồi bổ cơ thể, trị trẻ em còi xương, suy dinh dưỡng và người lớn suy nhược): Tắc kè tươi đã sơ chế (bỏ đầu, chân, phủ tạng), nấu với gạo và gừng tươi. 6. Bột Cáp giới với rượu ngọt (Trị di tinh, liệt dương, đau lưng): Tắc kè (1 đôi), tán bột mịn. Uống 1 chỉ bột (khoảng 1g) với rượu ngọt, 2 lần/ngày.
- Dạng bột: Liều dùng thông thường là 2-8g/ngày hoặc 3-6g/ngày. - Dạng rượu thuốc: Mỗi ngày có thể dùng 10-15ml hoặc 20-30ml mỗi lần, 2-3 lần mỗi ngày.
- Dùng một cặp đực - cái: Mặc dù trên thực tế rất khó phân biệt, nhiều bài thuốc cổ truyền nhấn mạnh việc sử dụng một cặp tắc kè (đực và cái) để đảm bảo sự cân bằng âm dương và phát huy tối đa hiệu quả của vị thuốc. - Đảm bảo dược liệu còn nguyên đuôi: Giá trị dược liệu nằm chủ yếu ở phần đuôi, do đó, chỉ nên sử dụng những con tắc kè còn nguyên vẹn đuôi. - Loại bỏ các bộ phận độc: Cần bỏ đi các bộ phận được cho là có độc tố nhẹ như mắt và bàn chân trước khi chế biến. - Chống chỉ định cho các trường hợp sau: + Người bị ho, hen suyễn do "phong hàn ngoại tà" (cảm lạnh từ bên ngoài) hoặc "thực nhiệt" (nhiệt tà đang thịnh). + Người có đờm ẩm, đang trong giai đoạn bệnh cấp tính. - Để đảm bảo an toàn và hiệu quả, người bệnh cần được chẩn đoán chính xác bởi thầy thuốc Y học cổ truyền trước khi sử dụng.
Tắc kè được sử dụng toàn thân sau khi đã trải qua quá trình sơ chế cẩn thận. Các bộ phận cần loại bỏ bao gồm phủ tạng, đầu (chặt từ sau hai u mắt), và bốn bàn chân. Một trong những điều kiện tiên quyết để đánh giá chất lượng của dược liệu Tắc kè là phần đuôi phải còn nguyên vẹn, không bị gãy hoặc chắp nối. Theo kinh nghiệm dân gian và Y học cổ truyền, đuôi được coi là bộ phận quý giá nhất của con vật. Giá trị này được cho là có liên quan đến hàm lượng chất béo cao và các hợp chất sinh học quan trọng tập trung ở đây, giúp mang lại các tác dụng bổ dưỡng của dược liệu.
Hibiscus sabdariffa L.
Atiso đỏ có vị chua, tính mát, được quy vào kinh Can và Đại trường.
Anthocyanin, cyanidin-3-O-sambubioside và delphinidin-3-O-sambubioside, flavonoid, các acid hữu cơ (acid citric, acid tartric, acid malic và acid hibiscus), vitamin (vitamin C, B1, B2) và khoáng chất (protein, chất xơ và sắt).
Atiso đỏ là một loại cây thân thảo sống hằng năm, có thể đạt chiều cao từ 1.5-2m. Cây phân nhánh gần gốc, thân có màu tím nhạt hoặc đỏ, nhẵn bóng. Lá cây có hình trứng, mép lá có răng cưa, phiến lá có thể nguyên hoặc xẻ chân vịt 3 thùy. Hoa mọc đơn độc ở nách lá, không có cuống, với màu sắc đa dạng từ vàng, hồng, tía đến trắng. Quả nang có hình trứng, được bao bọc bởi đài hoa tồn tại và có lông thô. Cây thường ra hoa từ tháng 7-10 hàng năm.
Quá trình thu hái thường diễn ra vào khoảng tháng 9-11, khi hoa đã nở và kết thành quả với đài hoa dày, mọng nước. Dược liệu có thể được sử dụng ở dạng tươi hoặc sau khi phơi/sấy khô để bảo quản và dùng dần.
1. Trà: Sử dụng khoảng 70g hoa tươi (hoặc 30g hoa khô) để hãm với 700ml nước. Có thể thêm đường hoặc mật ong để giảm vị chua, tăng hương vị. Trà có thể thưởng thức nóng hoặc lạnh (Lưu ý: Không nên dùng nước máy để pha vì có thể làm trà bị nồng và chua hơn). 2. Siro (chữa ho và hỗ trợ tiêu hóa): Hoa tươi sau khi rửa sạch, tách hạt được xếp vào bình thủy tinh theo từng lớp xen kẽ với đường. Đậy kín và ngâm trong khoảng 15 ngày cho đến khi hoa tiết ra nước màu đỏ đậm. Liều dùng thông thường là 30ml mỗi ngày. 3. Rượu thuốc (hỗ trợ tiêu hóa, nhuận tràng và chống táo bón): Ngâm 1kg hoa tươi (hoặc 600g khô) với 3 lít rượu gạo 40 độ và 150ml mật ong. Sau khoảng 10 ngày, có thể bắt đầu sử dụng. Liều dùng khuyến cáo là khoảng 30ml mỗi lần.
Liều dùng hàng ngày thông thường cho mục đích giải khát, thanh nhiệt được khuyến cáo không nên vượt quá 2g/ngày. Đối với trà túi lọc, liều dùng thường là 2-3 túi mỗi ngày.
- Do tính chất lợi mật, việc sử dụng quá liều có thể gây co thắt toàn bộ cơ trơn đường tiêu hóa, dẫn đến chướng bụng, đầy hơi. Đối với những người có cơ địa tỳ vị hư hàn hoặc dạ dày yếu, vị chua của Atiso đỏ có thể gây khó chịu, đặc biệt khi uống lúc bụng đói. - Đối tượng cần thận trọng và chống chỉ định: Phụ nữ mang thai và cho con bú, người huyết áp thấp, người có vấn đề về tiêu hóa, người đang dùng thuốc tây y (điều trị tiểu đường và huyết áp cao, lợi tiểu, chống đông máu, tránh thai dạng estrogen),
Lá, hạt và đặc biệt là đài hoa.
Terminalia catappa L.
Dược liệu từ cây bàng có tính mát và được coi là không chứa độc tố. Lá bàng có vị cay hơi đắng.
Flavonoid, tanin, saponin, phytosterol, alkaloid, glycoside và các acid phenolic. Tricin, quercitrin, methyl gallate, axit gallic, axit oleanolic và axit arjunolic.
Cây thuộc loại thân gỗ lớn, có thể đạt chiều cao từ 8-10m, và đối với những cây lâu năm, chiều cao có thể lên tới 30-35m. Một trong những đặc trưng hình thái ấn tượng nhất của cây bàng là cấu trúc cành mọc vòng, nằm ngang, tạo thành một tán lá rộng, đối xứng, thường được ví như một "cái lọng" khổng lồ để che bóng mát. Chất gỗ của cây bàng cứng, màu đỏ, có khả năng chống thấm nước nên có thể được khai thác làm gỗ. Lá bàng cũng có kích thước đáng chú ý, to và rộng, hình trứng ngược, dài khoảng 20-30cm và rộng 10-13cm. Mặt trên của lá nhẵn bóng, trong khi mặt dưới có lông tơ mịn màu hung nhạt. Về hoa và quả, cây bàng là loài đơn tính cùng gốc, nghĩa là cả hoa đực và hoa cái đều mọc trên cùng một cây. Hoa có màu trắng hơi xanh, đường kính nhỏ khoảng 1 cm, không lộ rõ và không có cánh hoa. Chúng mọc thành chùm dài 15-20cm ở đầu cành hoặc nách lá. Quả bàng thuộc loại quả hạch, hình trứng dẹt, có hai mép mỏng và chuyển màu từ xanh lục khi còn non sang vàng và cuối cùng là đỏ khi chín. Bên trong quả có cơm màu vàng đỏ và một hạt, có vị chua và béo, ăn được. Cây thường ra hoa vào tháng 4-5 và có quả vào tháng 6-7.
1. Chữa viêm họng, đau họng: Giã nát lá non với muối, thêm nước, lọc lấy nước cốt súc miệng hoặc hãm/sắc uống thay nước lọc. Có thể xông hơi với nước lá bàng nóng. Súc miệng 2-3 lần/ngày; uống đủ 1-2 ly/ngày. 2. Chữa viêm da, ghẻ lở, chàm: Lá bàng non và muối tinh sắc nước đặc để tắm cho trẻ bị chàm. Hoặc giã nát lá non với muối, lọc lấy nước cốt bôi trực tiếp lên vùng da bị chàm, lở loét. 3. Chữa kiết lỵ, tiêu chảy: Vỏ thân (bỏ lớp đen ngoài), búp/lá non sắc uống với nước. Có thể thêm đường cho dễ uống. (Vỏ thân: 12-15g/ngày. Búp/lá non: 20-30g/ngày). 4. Đau răng, viêm lợi, nhiệt miệng: Lá non và vỏ thân sắc nước đặc để súc miệng, ngậm. Súc miệng 2-3 lần/ngày, mỗi lần 5 phút. 5. Cảm sốt, đau nhức xương khớp: Sắc uống (Lá non, búp non, có thể kết hợp với cúc tần, lá hương nhu). Hoặc giã nát lá tươi, xào nóng để đắp/chườm lên vùng đau nhức (20-30g/ngày). 6. Viêm tai giữa: Xay/giã nhuyễn (2-3 lá bàng tươi, vài hạt muối), vắt lấy nước cốt nhỏ vào tai (nhỏ 2-3 giọt/tai, 3-4 lần/ngày). 7. Viêm nhiễm phụ khoa: Sắc nước đặc (10-15 lá bàng, 3 thìa cà phê muối tinh), dùng nước ấm để vệ sinh bên ngoài (2 lần/ngày). 8. Bệnh trĩ: Lá tươi sắc lấy nước dùng để ngâm rửa hậu môn (ngâm 15-20 phút/lần).
Liều dùng của dược liệu bàng phụ thuộc vào bộ phận và mục đích sử dụng.
- Các bài thuốc từ cây bàng chỉ mang tính chất hỗ trợ điều trị và phù hợp với các trường hợp bệnh nhẹ. Chúng không thể thay thế hoàn toàn thuốc tây y trong điều trị các bệnh lý nghiêm trọng. Do đó, người bệnh cần thăm khám và tham khảo ý kiến của bác sĩ hoặc thầy thuốc trước khi áp dụng, đặc biệt là với trẻ em, người cao tuổi hoặc phụ nữ mang thai. - Việc chọn lựa và sơ chế dược liệu đóng vai trò quan trọng. Cần sử dụng lá non, tươi, sạch, không bị sâu bệnh và phải rửa thật kỹ trước khi đun hoặc chế biến để tránh gây nhiễm trùng thêm. - Một số tác dụng phụ cần lưu ý là nước lá bàng tươi có thể làm răng bị ố vàng tạm thời, tuy nhiên vết ố sẽ mất đi sau khi vệ sinh răng miệng đúng cách. Ngoài ra, một số người có thể bị đi ngoài phân lỏng khi mới bắt đầu sử dụng nước sắc lá bàng, nhưng tình trạng này thường biến mất sau vài ngày. Khi ngâm rửa phụ khoa, tuyệt đối không được thụt rửa sâu để tránh làm tình trạng viêm nhiễm trở nên nghiêm trọng hơn. Cần tránh uống nước lá bàng để qua đêm và không nên uống khi bụng đói.
Lá (đặc biệt là búp và lá non), vỏ thân, và nhân hạt.
Mentha arvensis
vị cay, mát, không độc, vào kinh phế và can; có tác dụng tán phong nhiệt, ra mồ hôi, thanh lương, giảm uất, tiêu hóa
Tinh dầu 0,5–1%, có thể tới 1,3–1,5%; hoạt chất chính là mentol (40–50%, có thể 70–90%), menton 10–20%; ngoài ra còn flavonozit
Bạc hà là một vị thuốc rất phổ thông ở nước ta, dùng trong cả đông y và tây y; cho các dạng thuốc gồm toàn cây, lá, tinh dầu và mentol, nhiều chế phẩm thông dụng như dầu cù là, kẹo ngậm, rượu bạc hà.
Chữa cảm mạo, sốt, nhức đầu, ngạt mũi, kém ăn, đau bụng đi ngoài; thuốc chữa nôn giúp tiêu hóa; chè chữa cảm mạo phối hợp bạc hà, kinh giới, phòng phong, bạch chỉ, hành hoa
Lá và toàn cây: 4–8g/ngày dạng thuốc pha. Tinh dầu hoặc mentol: 0,6ml. Cồn bạc hà: mỗi lần 5–15 giọt.
Tinh dầu bạc hà và mentol có thể gây ức chế hô hấp, tim nếu bôi hoặc nhỏ mũi, đặc biệt nguy hiểm với trẻ nhỏ; cần hết sức thận trọng khi dùng cho trẻ sơ sinh và trẻ ít tuổi.
Toàn cây trên mặt đất, lá, tinh dầu bạc hà, mentol
Lilium brownii F.F. Br var. colchesteri Wils
Vị ngọt hơi đắng, tính mát; dưỡng âm, nhuận phế, an thần
Cây mọc ở vùng núi cao, ưa ẩm mát, thường trồng làm cảnh và làm thuốc
Củ bách hợp là phần thân hành của cây loa kèn trắng, giàu tinh bột và chất nhầy, vị thuốc dưỡng âm, nhuận phổi, an thần.
Ho khan, lao phổi; mất ngủ, hồi hộp; sốt khỏi còn khát khô
6–20 g củ khô/ngày, sắc hoặc nấu canh
Không dùng khi tỳ vị hư hàn, tiêu chảy; chọn củ chắc, không mốc, dùng đúng liều theo hướng dẫn thầy thuốc.
Củ (thân hành)
Morinda officinalis How
Ba kích có vị cay ngọt, tính hơi ôn. Vào thận kình. Có tác dụng ôn thận trợ dương, mạnh gần cốt, khử phong thấp. Dùng chữa dương ủy, phong thấp cước khí, gân cốt yếu, mém, lưng gối mỏi đau.
Cây leo, sống lâu năm; thân leo qua các bụi; lá đối.
Ba Kích là cây thuốc cổ truyền nổi tiếng, dùng rễ làm vị thuốc bổ thận tráng dương, tăng cường thể lực, chữa đau mỏi chân tay, phong thấp, hỗ trợ sinh lý nam. Thường mọc hoang hoặc trồng; thu hoạch rễ vào mùa thu-đông, sau khi rửa và phơi sấy khô rồi sử dụng.
Ba kích nhục 10g, thục địa 10g, nhân sâm (hoặc đảng sâm) 4g, thỏ ty tử 6g, bổ cốt toái 5g, tiểu hổi hương 2g, nước 600ml. Sắc còn 200ml, chia ba lần uống trong ngày. Dùng chữa những người già yếu chân gối, tê mỏi.
4-10 g rễ khô mỗi ngày, dưới dạng thuốc sắc hoặc cao lỏng
Người âm hư, hỏa thịnh, đại tiện táo bón cấm dùng.
Rễ của cây
Eurycoma longifolia
Vị đắng, tính ôn / có nơi nói tính mát; quy vào kinh Can, Thận
Thân, vỏ thân, rễ, lá, quả đều được dùng làm thuốc; rễ là bộ phận dùng phổ biến nhất.
Cây Bách bệnh (Eurycoma longifolia) còn được gọi Bá bệnh, Mật nhân. Đây là một vị thuốc quý trong Đông y và y học cổ truyền Đông Nam Á với lịch sử sử dụng lâu dài. Rễ là bộ phận chính, thường thu hái, phơi khô, sử dụng để bồi bổ, chữa ăn uống không tiêu, đau lưng, phong thấp, tăng cường sinh lý nam. Nhiều nghiên cứu hiện đại cũng chỉ ra tác dụng chống sốt rét, kích thích sinh dục nam, lợi mật, bảo vệ gan.
Như tên của cày, đây là một vị thuôc chữa được nhiều bệnh (bách là trăm). Vỏ dùng chữa những trường hợp ăn uống không tiêu, đau mỏi lưng. Quả dùng chữa lỵ, tại Campuchia người ta dùng rê chữa ngộ độc và say rượu, ơị giun. Vỏ phơi khô tán bột ngâm rượu hay làm thành viên uống. Ngày dùng 4 đến 6g. Lá còn được dùng tắm ghè, lở ngứa.
Rễ khô: khoảng 4-6 g mỗi ngày Vỏ rễ hoặc vỏ thân dạng thuốc sắc hoặc bột, hoặc chế phẩm ngâm rượu tùy nơi
Không dùng cho phụ nữ mang thai. Trẻ em, người cơ thể yếu cần thận trọng. Không dùng quá liều; có thể gây buồn nôn, đau bụng, hạ huyết áp, hạ đường huyết.
Người ta dùng quả vỏ thân và vỏ rễ phơi hay sấy khô làm thuốc.
Annona reticulata L
Vị chát (có độc nhẹ, đặc biệt ở hạt và vỏ thân), có tính sát trùng, lợi tiểu, nhuận tràng; kháng khuẩn, kháng nấm; ức chế tế bào ung thư trong nghiên cứu; diệt côn trùng, trừ giun sán
Mọc hoang và được trồng; phân bố rộng ở Việt Nam (vùng ven sông, rìa kênh, mương, ao hồ, nơi đất ẩm và chịu phèn)
Bình bát vừa là cây ăn quả vừa là vị thuốc dân gian, chứa nhiều hoạt chất sinh học có tác dụng kháng khuẩn, chống ký sinh trùng, hỗ trợ tiêu hóa.
Quả xanh phơi khô sắc chữa tiêu chảy, kiết lỵ; hạt tán bột trị giun; lá, vỏ sắc trị ho, lao phổi; quả giã chườm đau nhức.
Quả xanh 8-12 g/ngày khi sắc uống; các bộ phận khác dùng phụ thuộc bài thuốc cụ thể
Hạt và vỏ có độc nhẹ, tránh dùng quá liều; không để nhựa dính vào mắt; phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ nên tham khảo thầy thuốc trước khi dùng.
Quả (xanh hoặc chín), hạt, lá, vỏ thân, rễ
Clinacanthus
Vị ngọt nhạt; tính mát.
Cây thân thảo hoặc bụi nhỏ, cao 0,5–1,5m; thân xanh, ít phân nhánh; lá mọc đối, phiến lá hình mác, màu xanh đậm; hoa mọc ở kẽ lá, dạng ống, màu đỏ hoặc đỏ cam; quả nang nhỏ, có hạt.
Bìm bịp, còn gọi là xương khỉ hay liền xương, là loài cây thuốc quý trong y học cổ truyền và cũng được nghiên cứu hiện đại. Cây có công dụng đa dạng: giải độc, mát gan, chữa các bệnh xương khớp, hỗ trợ điều trị ung thư, làm lành vết thương. Lá cây được dùng phổ biến nhất, có thể dùng tươi hoặc khô.
Thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, hoạt huyết, giảm đau.
15–30g lá tươi/ngày
Phụ nữ mang thai, người đang cho con bú, người có huyết áp thấp, hoặc cơ địa hàn cần tham khảo ý kiến y tế trước khi sử dụng.
Lá và toàn cây.
Stemona tuberosa Lour
Vị ngọt, đắng; tính hơi ấm; không độc.
Thân dây leo, rễ củ chùm (nhiều củ, hình thoi – cong queo), củ dài khoảng 5-30 cm, đường kính 0,5-2 cm. Rễ phơi hoặc sấy khô để dùng.
Bách bộ, còn gọi dây đẹt ác, dây ba mươi là cây thuốc quý trong y học cổ truyền Việt Nam. Rễ củ được thu hái, phơi hoặc sấy khô sử dụng làm thuốc. Với các hoạt chất alkaloid như stemonin, tuberstemonin, stemonidin…, bách bộ có tác dụng chữa ho, diệt giun, sát trùng, hỗ trợ điều trị các bệnh về đường hô hấp hoặc ký sinh trùng bên ngoài.
Chữa giun: Ngày uống 7-10g, dưới dạng thuốc sắc. Uống vào sáng sớm lúc đói, uống 5 ngày liền, sau đó tẩy.b.Diệt ruồi: Nước sắc bách bộ, cho thêm ít đường vào, ruồi ăn phải chết tới 60%. -Dung dịch 1/20 giết chết bọ gậy 100%. -Cho bột bách bộ rắc vào hố phân, dòi chốt 100%. -Diột ruồi, muỗi, bọ chó, rân, đốt bách bộ hơ lấy, khói.c.Chữa giun kim: Bách bộ tươi 40g (bằng 20g bách bộ khô), nước 200ml, sắc sôi nửa giờ, cô còn độ 30ml. Thụt giữ 20 phút. Điều trị luôn như vây trong thời gian 10-12 ngày thì khỏi.
+ Chữa giun: 7-10 g rễ khô mỗi lần, uống vào sáng sớm lúc đói, trong khoảng 5 ngày liên tục + Chữa ho: khoảng 4-12 g rễ khô/ngày
Người tỳ vị hư yếu, tiêu chảy nên thận trọng khi dùng bách bộ Dùng đúng liều lượng; nếu dùng không đúng có thể có phản ứng phụ (tùy người
Rễ của cây
Calotropis gigantea
Chữa tim, ít độc.
Calotropin, thủy phân cho calotropagenin.
Cây mọc hoang và được trồng nhiều nơi ở nước ta để làm hàng rào hay để lấy lá làm thuốc. Lá hái gần quanh năm. Dùng vải sạch lau hết lông, phơi hay sấy khô mà dùng.
Nhân dân dùng lá cây bồng bổng làm thuốc chữa hen. Cách dùng như sau: Hái lá đem về, lấy khăn ướt lau sạch lông, thái nhỏ, sao qua cho héo. Ngày dùng 10 lá sắc với 1 bát rưỡi nước, cô còn 1 bát. Thêm đường vào, chia 3-4 lần trong một ngày. Nước hơi đắng và tanh, uống nhiều một lúc có thể gây nôn. Nên uống xa bữa cơm hoặc sau bữa cơm. Uống vào có thể thấy mỏi chân, tay, mình mẩy, đi ỉa lỏng (rất hiếm). Kết quả sau 2-3 ngày, có khi sau 7-8 ngày. Có trường hợp có kết quả sau 10 phút.
10 lá
Không có thông tin lưu ý
Lá
Beletia hyacinthina R. Br
Vị đắng, tính bình. Quy kinh Phế. Tác dụng: bổ phế, sinh cơ, hoá ứ, cầm máu.
cây bạch cập
- Bạch cập (Bletilla striata) là cây thảo họ Lan, phân bố ở vùng cao mát (Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái...).
- Vị thuốc được chế từ thân rễ phơi hoặc sấy khô, có tác dụng cầm máu, sinh cơ, chữa ho ra máu, chảy máu cam, huyết lỵ, bỏng và vết thương.
- Thành phần hoá học gồm khoảng 55% chất nhầy, một ít tinh dầu và glycogen.
Chữa thổ huyết: Bạch cập tán nhỏ, uống với nước cơm/nước cháo, ngày 10–15g. Chảy máu cam: Bạch cập tán nhỏ, uống 1–3g, đồng thời đắp lên sống mũi. Chữa bỏng lửa: Bạch cập tán nhỏ, hoà dầu vừng, bôi ngoài. Vết thương do đâm chém: Bạch cập 20g + Thạch cao 20g, tán bột, rắc lên vết thương.
4–12g/ngày (thuốc bột hoặc thuốc sắc).
- Chưa khai thác rộng rãi ở Việt Nam, chủ yếu nhập từ Trung Quốc. - Không nên nhầm lẫn với các loài lan khác có thân rễ tương tự. - Dùng đúng liều lượng, tránh lạm dụng.
Thân rễ (Rhizoma Bletillae).
Lactuca indica L
Vị ngọt, hơi đắng; tính mát
Không có thông tin thành phần hoá học
Bồ công anh là loài cây thân thảo mọc phổ biến, có hoa vàng, lá xanh nhọn và răng cưa sâu. Trong y học cổ truyền, cây có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, thường được dùng chữa viêm tuyến vú, tắc tia sữa, mụn nhọt, viêm nhiễm.
Chữa sưng vú, tắc tỉa sữa: Hái 20 đến 40g lá bồ công anh tươi, rửa sạch, thêm ít muối giã nát, vắt lấy nước uống, bã dùng đắp lên nơi vú sưng đau. Thường chỉ dùng 2-3 lần là đỡ, Chữa ăn uống kém tiêu, hay bị mụn nhọt: Lá bồ cồng anh khô 10 đến 15g; nước 600ml (3 bát), sắc còn 200ml (1 bát) (có thể đun sôi kỹ và giữ sôi ữong vòng 15 phút). Uống liên tục trong 3-5 ngày, có thổ kéo dài hơn.Đơn thuốc chữa đau dạ dày: Lá bồ công anh khô 20g, lá khôi 15g, lá khổ sâm lOg. Thêm 300ml nước, sắc đun sôi trong vòng 15 phút, thêm ít đường vào mà uống (chia 3 lần uống trong ngày). Uống liên tục trong vòng 10 ngày, nghỉ 3 ngày rồi lại tiếp tục cho đến khi khỏi.
Liều dùng hàng ngày: 20 đến 40g lá tươi hoặc 10 dến 15g lá khô hay cành và lá khô. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác, thường dùng dưới dạng thuốc sắc có thêm đường cho dễ uống.
Không dùng cho người tỳ vị hư hàn, tiêu chảy
Dùng lá, lá hái vể dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô đùng dần. Thường hay dùng tươi. Không phải chế biến gì đặc biệt
Angelica dahurica
có vị cay, tính ôn, vào 3 kinh phế, vị và đại tràng. Có tác dụng phát biểu khứ phong, thẩm thấp, hoạt huyết bài nùng sinh cơ, giảm đau, dùng để Làm thần kinh hưng phấn làm cho huyết trong toàn thân vận chuyển mau chóng, làm thuốc thư gân, ra mổ hôi chữa nhức đầu, răng đau, các bệnh về đầu, mặt, xích bạch đới, thông kinh nguyệt.
Rễ củ được thu hái, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô để dùng làm thuốc.
Bạch chỉ là vị thuốc quen thuộc trong Đông y, chủ yếu dùng rễ củ. Dược liệu này có tác dụng phát tán phong hàn, giảm đau và cầm máu. Thường được sử dụng trong các bài thuốc trị cảm mạo, nhức đầu vùng trán, đau răng, chảy máu cam, đồng thời còn dùng ngoài để chữa mụn nhọt, sưng viêm tuyến vú và lở ngứa.
Trẻ con nóng sốt: Nấu nước bạch chỉ, tắm thật nhanh ở nơi kín gió.Chữa chứng hỏi miệng: Bạch chỉ 30g, xuyên khung 30g. Hai vị tán nhỏ, dùng mật viên bằng hạt ngô. Hằng ngày ngậm thuốc này, mỗi ngày ngậm chừng 2-3 viên.
Ngày dùng 5-10g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột chia làm nhiều lần uống, mỗi lần uống l-2g.
Không dùng Bạch chỉ cho người âm hư hỏa vượng, đau đầu do huyết hư. Khi dùng cần tuân theo liều lượng, tránh lạm dụng.
rễ cây
Scutellaria barbata D. Don
Vị cay, đắng, tính hơi hàn; vào can, phế.
Cây thảo sống nhiều năm, cao 30–50cm; thân mọc đứng hoặc bò, phân nhánh nhiều; lá mọc đối, phiến lá hình mác hẹp; hoa nhỏ, màu tím lam, mọc thành chùm ở ngọn cành.
Bán chi liên (tên khoa học Scutellaria barbata D.Don), thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae), là cây thuốc nam quen thuộc trong y học cổ truyền. Cây mọc hoang và được trồng nhiều ở vùng trung du và miền núi nước ta.
Thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, tiêu thũng, tán ứ, chống ung thư.
15–30g/ngày
Không có thông tin lưu ý
Toàn cây
Eucalyptus globulus Labill
Sát khuẩn, kháng viêm, long đờm.
Tanin, xineola, tecpen.
Bạch đàn vốn quê ở châu Úc, nhưng từ lâu bạch đàn được di thực vào nhiều nước trên thế giới từ châu Âu đến châu Á, châu Mỹ, châu Phi. Vì cây này có bộ rễ ăn sâu, rộng, cây lại mọc nhanh (một cây trồng 7 năm đã có thể cao 20m), có khả năng hút nước trong đất rất mạnh cho nên thường được trồng ở những nơi vùng lấy, ẩm thấp để cải tạo những vùng này, làm giảm tỷ lệ bệnh sốt rét. Mùi thơm của lá cũng có tác dụng đuổi muỗi.
Tại nước ta, từ trên 40 năm trở lại đây, đã di thực một số ít cây trồng rải rác nhiều nơi như loại bạch đàn trắng ở vùng Đò Cầm (Nghệ An), và một vài nơi khác nữa, hiện nay đang được phổ biến rộng rãi. Còn cây Eucalyptus globulus thì rất ít gặp. Từ năm 1956 trở lại đây với phong trào trồng cây gây rừng, làm xanh đổi trọc, cây bạch đàn là một cây được trồng nhiều nhất để phủ xanh những đổi trọc tỉnh trung du như Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Cạn, Thái Nguyên v.v...
Ngoài công dụng trồng để lấy gỗ, bóng mát, ta đã bắt đầu khai thác bạch đàn để lấy lá dùng làm thuốc và cất tinh dầu làm thuốc. Để có thể sử dụng nhiều lá, theo kinh nghiệm của Trung Quốc, vào năm thứ 3 và thứ 7 chặt cây để lấy toàn bộ lá và gỗ nhỏ, những chồi mọc ra ta cũng sẽ cắt lấy lá và chỉ để lại 2 nhánh cho phát triển, cuối cùng cũng chỉ còn lại một chổi để thay thế cây cũ. Để lấy làm thuốc, thường ta hái lá gần mùa hè, phơi trong râm, đến khô rồi đựng trong lọ hay túi kín. Chỉ những lá hình lưỡi liềm được dùng làm thuốc. Nên tránh hải lá non mặc dầu tỷ lệ tinh dầu trong lá non cao hơn.
Từ lá và cành non, ta có thể đem cất lấy tinh dầu để dùng thơ hay tinh chế mà dùng.
Việc trồng bạch đàn chủ yếu do cán bộ làm nghiệp phụ trách vì đây là một cây cho gỗ. Bạch đàn trồng bằng hạt hái vào những tháng thu đông (tháng 8 đến tháng 11). Để trồng bảo đảm, hạt thường được ngâm nước 30°C 24 giờ trước khi đem gieo, vớt ra để ráo. Sau khi cây con mọc trong vườn ươm được 5-7 tháng thì đem trồng ở nơi cố định. Những cây con đem trồng thường cao 0,30 đến 1m, đường kính thân từ 0,5 đến 1cm. Mùa gieo vào tháng 9-11, trồng vào tháng 2-4 hoặc gieo vào tháng 1-3, trống vào tháng 7- 9, lá thu hoạch ở những cây từ 3 năm trở lên.
Lá bạch đàn dùng dưới dạng thuốc hãm 20g trong 1 lít nước, xirô, cồn thuốc (1/5). Làm thuốc bổ (do tanin) chữa ho, giúp sự tiêu hoá (do tinh dầu). Cồn thuốc còn dùng để xông mũi, chữa cảm sốt (nhỏ 2 đến 10ml cồn thuốc vào nước soi). Tinh dầu dùng bôi xoa ngoài da như tinh dầu tràm, hoặc chế thành thuốc tiêm (ngày tiêm 1-2 ống chứa 0,10-0,20g tinh dầu hòa tan trong dầu lạc trung tính). Còn dùng tinh dầu pha với dầu làm thuốc nhỏ mũi.
20g hãm trong 1 lít nước. 0,1-0,2g tinh dầu.
Không có thông tin lưu ý
Lá
Clerodendrum chinense
Theo Đông y, Bạch đồng nữ có vị đắng, tính mát, quy kinh can và tỳ, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết, điều kinh, lợi tiểu. Nghiên cứu hiện đại cho thấy dược liệu có tác dụng kháng khuẩn, kháng viêm, hỗ trợ điều hòa nội tiết và bảo vệ gan.
Cây nhỏ,
Bạch đồng nữ (tên khoa học Clerodendrum cyrtophyllum Turcz), còn gọi là Bạch hoa, Bạch đồng nữ hoa trắng, thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae). Đây là cây thuốc nam được sử dụng phổ biến trong y học cổ truyền để điều trị các bệnh phụ khoa, viêm nhiễm và nhiều chứng bệnh khác.
Viêm nhiễm phụ khoa (khí hư, huyết trắng): Lá và hoa bạch đồng nữ sắc uống. Kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh: Dùng phối hợp với ích mẫu, hương phụ. Mụn nhọt, lở ngứa: Lá tươi giã nát đắp ngoài. Viêm gan, vàng da: Sắc uống phối hợp với diệp hạ châu, nhân trần.
Dùng khô: 10–20 g/ngày. Dùng tươi: 30–60 g/ngày. Thường sắc với 500–600 ml nước, chia 2–3 lần uống trong ngày.
Không có thông tin lưu ý
lá và rễ
Bulbus Lili – Lilium browii F.F. Br. var. colchesteri Wils
bách hợp vị đắng, tính hơi hàn, vào 2 kinh tâm và phế. Còn có tác dụng nhuận phế, trừ ho, định tâm, an thần, thanh nhiệt lợi tiểu. Dùng chữa ho lao thổ huyết, hư phiền hổi hộp, tim đập mạnh, phù, thũng.
Cây thảo sống lâu năm
Bulbus Lili (Bách hợp) là dược liệu được lấy từ củ của cây Lilium brownii F.E. Br. var. colchesteri Wils, thuộc họ Hành tỏi (Liliaceae). Bách hợp từ lâu được dùng trong y học cổ truyền Á Đông với tác dụng dưỡng âm, nhuận phế, an thần, thích hợp cho người suy nhược, ho khan, mất ngủ, hồi hộp.
Quy cách:
Chữa các triệu trứng đau ngực, thổ huyết: Bách hợp giã tươi lấy nước uống và 2.Chữa viêm phế quản, các chứng ho: Bách hợp 30g, mạch môn đông lOg, bách bộ 8g, thiên mởn đồng lOg tang bạch bì 12g, ý dĩ nhân 15g, nước l.OOOml. sắc còn 400ml. Chia 3 lần uống trong ngày.
Ngày dùng 15-30g dưới dạng thuốc bột hoặc thuốc sắc.
Những người trúng hàn không dùng được. Chú ý đừng nhầm cây bách hợp với cầy tỏi voi hay loa kèn đỏ
củ của cây
Typhonium trilobatum (L.) Schott
Vị cay, tính ôn, có độc. Quy kinh Tỳ, Vị, Phế. Tác dụng: Táo thấp, hóa đờm, giáng nghịch chỉ nôn, tiêu thũng, chỉ khái.
Cây thân thảo sống nhiều năm.Củ hình cầu, đường kính 1–2 cm. Lá hình tim, hình mác hoặc chia 3 thùy, dài 4–15 cm, rộng 3,5–9 cm. Cụm hoa bông mo, quả mọng hình trứng dài khoảng 6 mm. Bán hạ Trung Quốc: lá xẻ sâu rõ. Chưởng diệp bán hạ: lá chia 9 thùy khía sâu., mọc từ củ.
Bán hạ (Typhonium trilobatum, Pinellia ternata) là cây thảo thuộc họ Ráy (Araceae), mọc hoang nhiều nơi ẩm thấp ở Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản.
Vị thuốc được chế từ thân rễ (củ) đã qua chế biến để giảm độc.
Tác dụng chính: chữa ho, nhiều đờm, nôn mửa, đau dạ dày mạn, hen suyễn, chóng mặt, sưng đau ngoài da.
- Thành phần hoá học gồm tinh bột, chất nhầy, một ít tinh dầu, alkaloid, phytosterol.
Chữa nôn mửa, đầy bụng: Bán hạ chế 8 g, Sinh khương 3 g, Phục linh 6 g → sắc uống. Ho nhiều đờm: Bán hạ 8–12 g, Tỳ bà diệp 12 g, Cam thảo 4 g → sắc uống. Phụ nữ có thai nôn nghén: Bán hạ chế 8 g, Phục linh 6 g, Sinh khương 3 g → sắc uống. Hen suyễn, đờm nhiều: Bán hạ chế 12 g, Khoản đông hoa 8 g, Hạnh nhân 8 g → sắc uống. Ngoài da (sưng đau, rắn cắn): Bán hạ tươi giã nát đắp ngoài.
1,5 – 4 g/ngày (thông thường). Có thể 4 – 12 g/ngày nếu đã chế biến. Dùng ngoài: giã tươi đắp.
Bán hạ sống có độc, gây ngứa rát họng → chỉ dùng sau khi chế biến. Không dùng cho phụ nữ có thai (nếu không có chỉ định). - Dễ nhầm với củ các loài khác, cần phân biệt rõ.
Thân rễ (Rhizoma Pinelliae).
Hedyotis diffusa Willd
Vị: ngọt, hơi đắng. Tính: hàn (mát). Quy kinh: tâm, can, tỳ, thận.
Cây bạch hoa xà thiệt thảo
Bạch hoa xà thiệt thảo, còn gọi là Cỏ lưỡi rắn trắng, là cây thuốc nam quen thuộc trong y học cổ truyền. Từ lâu, dược liệu này được sử dụng trong các bài thuốc thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, hỗ trợ điều trị viêm nhiễm, khối u, ung thư và các bệnh gan mật.
Thanh nhiệt, giải độc, lợi thấp và tán ứ
Dùng sắc uống: Tươi: 30 – 60 g/ngày. Khô: 15 – 30 g/ngày. Dùng ngoài: Lá tươi giã nát, đắp trực tiếp lên mụn nhọt, vết viêm nhiễm da. Có thể phối hợp với các vị khác như Bán chi liên (Scutellaria barbata), Xa tiền thảo, Kim ngân hoa trong các bài thuốc thanh nhiệt giải độc, hỗ trợ điều trị ung thư.
Không có thông tin lưu ý
Toàn cây, thu hái vào mùa hè, thu, rửa sạch rồi phơi hoặc sấy khô.
Gleditschia australis Hemsl
Bồ kết: Theo các tài liệu cổ thì bồ kết (bỏ hạt, hoặc dốt ra than, hoặc tán nhỏ làm thành viên hay thuốc bột) có vị cay, măn, tính ôn hơi có độc, vào 2 kinh phế và đại tràng, thông khiểu, tiêu đờm, sát trùng, làm cho hắt hơi dùng chủ yếu chữa trung phong cấm khẩu phong tê, tiêu đồ ăn, đờm xuyên thũng, sáng mắt, ích tinh.
Cây gỗ nhỏ hoặc trung bình, cao 5-10m, mọc hoang hoặc trồng ở nhiều tỉnh Việt Nam (Bắc, Trung, Nam). Thân có gai, lá kép lông chim, quả dẹt dài 20-30cm.
Gleditschia australis Hemsl. là một loài cây thuộc họ Đậu (Fabaceae), cùng họ với cây Bồ kết (Gleditsia sinensis). Ở một số tài liệu dược học cổ truyền, nó được dùng tương tự bồ kết trong việc làm thuốc trừ đờm, khai khiếu và sát trùng.
Thuốc chữa ho: Bồ kết Ig, quế chi Ig, đại táo (táo đen) 4g, cam thảo 2g, sinh khương Ig, nước 600ml; sắc còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày. Chữa nhức răng, sâu ráng: Quả bồ kết tán nhỏ, đắp vào chân răng, hễ chảy dãi ra thì nhổ đi. Chữa trẻ con chốc dầu, rụng tóc: Bồ kết đốt ra than, tán nhỏ rửa sạch vết chốc, rồi đắp than bồ kết lên. Chữa đi lỵ lâu ngày: Hạt bồ kết sao vàng, tán nhỏ, dùng hồ nếp viên bằng hạt ngô. Ngày dùng to đến 20 viên, dùng nước chè đặc mà chiêu thuốc (nên uống buổi sáng sớm khỏi mất ngủ). Chữa phụ nữ sưng vú: Gai bồ kết thiêu tồn tính 40g, bạng phân 4g. Hai vị đều tán nhỏ, trộn đều, mỗi lần uống 4g bột này.
Quả 4-12g/ngày (sắc uống hoặc nấu nước rửa); hạt 2-4g/ngày. Dùng ngoài: nấu nước tắm, gội đầu.
Tránh dùng liều cao cho phụ nữ mang thai.
quả bồ kết , hạt và gai
Paris polyphylla Sm
vị tào hưu (thân rễ của cây bảy lá một hoa) có vị ngọt, hơi cay, tính bình không độc. Tác đụng chủ yếu của nó là thanh nhiệt giải độc, nhất là đối với loài rắn độc
Cây thân thảo cao 0,8–1m. Thân rễ ngắn (5–15cm), nhiều đốt. Lá mọc vòng giữa thân, thường 7 lá (cũng có 3–10), phiến lá hình mác rộng, dài 15–21cm, rộng 4–8cm, đầu nhọn. Hoa mọc đơn độc ở ngọn thân, cuống dài 15–30cm, lá đài 5–10 (thường 7), màu xanh. Cánh hoa dạng sợi mảnh, rủ xuống, màu vàng nhạt. Quả mọng, tím đen khi chín.
- Cây Bảy lá một hoa (Paris polyphylla) là loài dược liệu quý hiếm, phân bố tại vùng núi cao Việt Nam như Cúc Phương (Ninh Bình), Sapa (Lào Cai), Hòa Bình, Hà Giang. Trong Đông y, thân rễ (tảo hưu) được xem là vị thuốc giải độc mạnh, đặc biệt trị rắn cắn, mụn nhọt, viêm nhiễm. Ngoài ra còn chữa sốt rét, ho lao, hen suyễn. Khoa học hiện đại đã chứng minh thân rễ chứa nhiều saponin steroid có hoạt tính sinh học cao (chống viêm, kháng khuẩn, chống ung thư). Ở Trung Quốc có câu:
“Ốc hữu thất diệp nhất chi hoa – độc xà bất tiến gia”
→ nghĩa là trong nhà có cây này thì rắn độc không vào.
công dụng chữa sốt và rắn độc, vị tảo hưu còn dùng chữa mụn nhọt, viêm tuyến vú, sốt rét, ho lao, ho lâu ngày, hen xuyễn, dùng ngoài thì giã đắp lên những nơi sưng đau.
Ngày dùng 4 đến 12g dưới dạng thuốc sắc. Dùng ngoài không kể liều lượng.
- Cần phân biệt với các loài Paris khác (Paris quadrifolia, Paris delavayi, Paris hainanensis…) tránh nhầm lẫn. - Dùng đúng liều, vì saponin có độc tính cao, quá liều có thể gây nôn, ức chế thần kinh, nguy hiểm. - Không dùng cho phụ nữ mang thai.
thân rể
Crotalaria pallida Aiton
Vị đắng nhẹ, tính mát. Công năng: lợi tiểu, kiện tỳ, bổ can thận, giải độc, tiêu viêm.
Cây Lục lạc ba lá tròn
- Lục lạc ba lá tròn (Crotalaria mucronata) là cây mọc hoang và được trồng nhiều ở Việt Nam, thường dùng làm phân xanh hoặc củi. Trong y học dân gian, hạt và toàn cây được dùng chữa rối loạn tiểu tiện, di tinh, cam tích ở trẻ em, viêm tuyến vú. Các nghiên cứu đã xác định trong hạt và lá chứa nhiều hợp chất alkaloid và flavonoid (mucronatin, retrorsin, vitexin, apigenin) có hoạt tính sinh học. Tuy nhiên, một số alkaloid của chi Crotalaria có thể gây độc nếu dùng quá liều, nên cần thận trọng khi sử dụng.
Hạt (6–12g/ngày, sắc uống): chữa tiểu tiện nhiều lần, đái són, di tinh, mắt mờ, can thận kém, viêm tuyến vú, trẻ em cam tích. Toàn cây (60–80g/ngày, sắc uống): dùng trong các bệnh cam tích, suy nhược. Dùng ngoài: cây tươi giã nát, trộn rượu đắp chỗ sưng đau.
Hạt: 6–12g/ngày. Toàn cây: 60–80g/ngày.
- Cây chủ yếu dùng trong phạm vi nhân dân, chưa có nhiều nghiên cứu lâm sàng hiện đại. - Dùng đúng liều lượng, vì họ Cánh bướm có loài chứa alkaloid có độc tính. - Không tự ý dùng liều cao.
Hạt, toàn cây.
Lantana camara
Có tác dụng sát trùng ngoài da, cầm máu, dùng xông giải cảm, hạ sốt
Có chất lantanin
Cây có nguồn gốc Trung Mỹ, sau phổ biến rộng ở nhiều nước; tại Việt Nam trồng làm cảnh và mọc dại, toàn thân có mùi đặc biệt.
Lá giã nát đắp vết thương, vết loét, rắn cắn; lá cho vào nước xông chữa cảm mạo, sốt.
Không có thông tin liều lượng
Không có tác dụng chữa viêm xoang mũi; tránh nhầm với cây cứt lợn
Lá và cành
Atractylodes macrocephala
Vị ngọt, hơi đắng, tính hơi ôn. Quy kinh: Tỳ, Vị. Tác dụng: bổ tỳ, kiện vị, táo thấp, hóa đờm, chỉ tả, lợi tiểu, an thai.
cây bạch truật(sơn liên)
Bạch truật là vị thuốc quý của Đông y, có tác dụng kiện tỳ, hòa trung, táo thấp, an thai. Trước kia phải nhập từ Trung Quốc (Triết Giang, Hồ Nam), hiện đã trồng được ở Việt Nam (miền núi cao lạnh để giữ giống, đồng bằng để lấy củ). Đây là một vị thuốc bổ, thường dùng trong các bài thuốc chữa tỳ hư, tiêu chảy, phù thũng, suy nhược, thai khí bất an và mồ hôi trộm.
Bổ tỳ, kiện vị, hóa thấp: Bạch truật 6–12g, sắc uống. Chữa tiêu chảy mạn tính, viêm ruột: dùng phối hợp với Hoàng liên, Cam thảo. Chữa phù thũng, tiểu ít: kết hợp với Trạch tả, Phục linh. An thai: phối hợp với Tang ký sinh, Đỗ trọng. Chữa mồ hôi trộm: dùng với Mẫu lệ, Hoàng kỳ
6–12 g/ngày
- Không dùng cho người âm hư, táo kết. - Nên sao chế trước khi dùng để tăng hiệu lực kiện tỳ, giảm tính ẩm. - Không nhầm lẫn với Thương truật (Atractylodes lancea).
Thân rễ
Strobilanthes alternata
Hơi chát, tính mát.
Cây bán tự cảnh
Bán tự cảnh là cây thuốc dân gian thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae), thường mọc hoang ở vùng núi, ven khe suối. Từ lâu, dược liệu này được dùng trong Đông y để thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, chữa cảm sốt và một số bệnh ngoài da.
Cầm máu, vết thương chảy máu. Trị mụn nhọt, viêm da, lở loét. Ho, cảm sốt, viêm họng. Thanh nhiệt, giải độc.
Dùng ngoài: Lá tươi giã đắp, không giới hạn. Dùng trong: 8–15 g lá tươi sắc nước uống/ngày.
Không có thông tin lưu ý
Lá (chủ yếu), đôi khi dùng cả thân non.
Stephania Glabra (Roxb.) Miers
Vị đắng, tính hơi lạnh, quy kinh Tâm, Phế; tác dụng an thần, bổ phế, trấn kinh, thanh nhiệt giải độc, hạ huyết áp, kháng viêm, hỗ trợ tiêu hóa.
Cây dây leo thân gỗ mảnh, dài 2-5m, mọc hoang ở vùng núi đá vôi. Lá hình tim, hoa nhỏ màu trắng, quả hình cầu đỏ, củ to hình trụ.
Bình vôi là dược liệu quen thuộc trong y học cổ truyền Việt Nam, được dùng từ lâu để an thần, chữa mất ngủ, suy nhược thần kinh và các bệnh hô hấp. Cây mọc hoang ở vùng núi đá vôi, thân rễ (củ) là bộ phận chính, chứa alkaloid giúp gây ngủ, hạ huyết áp và kháng viêm. Được ghi nhận trong Dược điển Việt Nam, thường dùng dưới dạng sắc uống, ngâm rượu hoặc bột.
Mất ngủ, suy nhược thần kinh: Củ bình vôi 8g, long nhãn 15g, hạt sen 15g, táo nhân 15g, lá vông 12g; sắc uống trước ngủ 30 phút, dùng 7-10 ngày. Đau đầu, nhức mỏi: Củ bình vôi 10g, bá tử 10g, câu kỷ tử 10g; sắc uống ngày 1 thang, dùng 5-7 ngày. Viêm phế quản, ho: Củ bình vôi 10g, cát cánh 6g, cam thảo 4g; sắc uống, dùng 3-5 ngày. Viêm loét dạ dày: Củ bình vôi 8g, dạ cẩm 10g, khổ sâm 10g, sa tiền tử 10g; sắc uống, dùng 7 ngày.
4-12g/ngày (sắc uống); bột 1-2g/lần. Dùng ngoài: giã đắp. Phụ nữ mang thai, trẻ em dùng thận trọng.
Có độc tính nhẹ (alkaloid gây co giật nếu liều cao), không tự ý dùng, tránh cho người huyết áp thấp hoặc dị ứng. Kết hợp thuốc Tây cần hỏi bác sĩ. Chọn củ sạch, tránh hàng kém chất lượng để ngừa ngộ độc.
Củ (thân rễ, chủ yếu), đôi khi dùng lá hoặc rễ (ít hơn).
Citrus hystrix
Có vị cay, đắng nhẹ, mùi thơm, tính ấm. Tác dụng tiêu thực, hành khí, chỉ khái (giảm ho), kháng khuẩn. Tinh dầu chúc chứa limonene, citronellal, có tác dụng kháng viêm, giảm đau.
Cây nhỏ dạng bụi hoặc cây gỗ nhỏ
Cây chúc, còn gọi là chanh Thái, thuộc họ Cam (Rutaceae), được trồng nhiều ở Đông Nam Á. Vỏ quả và lá có mùi thơm đặc trưng, thường dùng trong ẩm thực và y học cổ truyền.
Chữa ho, long đờm: vỏ quả chúc khô 6–10g sắc uống. Giúp tiêu hóa, giảm đầy hơi: dùng lá chúc tươi hãm nước uống hoặc nấu kèm món ăn. Xông giải cảm: lá chúc, lá sả, lá bưởi nấu nước xông.
Vỏ quả khô: 6–10g sắc uống. Lá tươi: 10–15g nấu nước hoặc hãm trà. Dùng ngoài: lượng tùy ý để xông, tắm.
Không có thông tin lưu ý
Quả, vỏ quả và lá.
Platycodongrandiflorum
Vị đắng, cay, tính bình
Cây Cát cánh, thân thảo lâu năm, cao 40–80cm, hoa màu tím lam
Cát cánh (*Platycodon grandiflorus*) là loài cây thân thảo sống lâu năm, thuộc họ Hoa chuông (Campanulaceae). Cây có rễ củ to, được dùng làm dược liệu sau khi thu hoạch, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô. Rễ cát cánh có tác dụng tiêu đờm, kháng viêm, thường dùng trong các bài thuốc trị ho, viêm họng và các bệnh về đường hô hấp. Phân bố chủ yếu ở vùng núi phía Bắc Việt Nam và các nước Đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản.
Ho có đờm, viêm họng, viêm phế quản, tiêu đờm
3-9g/ngày
Không dùng cho người ho khan không có đờm, tỳ vị yếu. Tham khảo ý kiến thầy thuốc trước khi sử dụng.
Rễ
Scoparia dulcis L
Vị ngọt, tính mát, có một chút đắng xen lẫn.
Cây cao 20-80cm. Lá mọc đối hay vòng, hình bầu dục, có mép khía răng cưa. Hoa nhỏ, màu trắng hay hơi tím nhạt, mọc ở kẽ lá. Quả nang hình cầu.
Cam thảo đất còn gọi là cam thảo nam, sinh địa cam thảo. Cây thường mọc hoang ở ven đường, bãi cỏ, nương rẫy và cũng được trồng để làm thuốc. Trong y học cổ truyền, cam thảo đất được dùng thay thế cam thảo bắc trong nhiều bài thuốc nhờ vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt, giải độc.
Dùng để chữa sưng vú, đinh nhọt. Dùng để chữa sốt, chữa lỵ. Dùng để chữa ho.
Sắc uống: 30-100g toàn cây sắc uống hàng ngày. Đắp ngoài: Dùng thân rễ tươi giã nát để đắp. Làm bột: Dùng lá khô tán bột, uống sau bữa ăn.
Cần chú ý nghiên cứu thêm.
Toàn cây, phơi sấy khô.
Areca catechu
Thuốc tiêu hóa, chữ viêm ruột, lỵ.
Trong hạt có tanin. Trong hạt non chừng 70% khi chín chỉ còn 15-20%. Ngoài ra còn có myristin 1/5, olein 1/4, laurin 1/2, các chất đường: sacaroza, mannan, galactan 2% và muối vô cơ.
Được trồng ở khắp nơi trong nước ta để lấy quả ăn trầu và xuất cảng. Trồng bằng quả thường sau 5-6 năm mới thu hoạch. Người ta phân biệt cau rừng (sơn binh lang) và cau nhà (gia binh lang). Cau rừng hạt nhỏ, nhọn và chắc hơn. Loại sơn binh lang có nhiều ở Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa.
Hạt cau thường được dùng làm thuốc chữa giun sán cho súc vật như chó với liều 4g. Dùng chữa sán cho người: phối hợp với hạt bí ngô. Chữa trẻ con chốc đầu: Mài hạt cau thành bột phơi khô hòa với dầu mà bôi. Cần theo dõi vì có độc. Dùng hạt cau phối hợp với thường sơn, thảo quả chữa sốt rét trong đơn thuốc “Thường sơn triệt ngược”.
1 quả/hạt.
Không có thông tin lưu ý
Quả, hạt
Solanum lycopersicum
Không có thông tin dược tính
Lá chứa nhiều gluco-ancaloit, chủ yếu là tomatin; quả chứa các axit hữu cơ (tactric, xitric, succinic, malic), 77% nước, protit, gluxit, muối khoáng, vitamin A, B1, B2, PP, C, có lycopen, xanthophyl, quexcitrozit; hạt chứa khoảng 25% dầu béo thô
Cà chua vốn nguồn gốc ở châu Mỹ, hiện nay được trồng ở hầu hết các châu làm thức ăn; trên thế giới sản xuất khoảng 20 triệu tấn/năm
Quả dùng làm thuốc nhuận tràng, chữa sốt, lao phổi; phối hợp cà chua với ớt chữa trĩ; nấu cà chua với dầu hoặc mỡ làm thuốc mỡ bôi mụn nhọt, lở loét; đọt cà chua giã nát đắp mụn nhọt, viêm tấy
Không có thông tin liều lượng
Không có thông tin lưu ý
Quả dùng làm thức ăn; lá dùng làm thuốc và là nguyên liệu chiết tomatin
Brassica Alba
Tính ấm, vị cay, không chứa độc
Cây cải canh
Cải canh là một loại rau quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày, thuộc họ Cải (Brassicaceae
Lợi khí, trừ hàn, hoá đờm tán thủng, khai vị, ôn trung, được dùng để điều trị viêm phế quản, ho suyễn, đau nhức xương khớp do phong hàn
4 - 8 g khi dùng uống.
Không có thông tin lưu ý
Hạt to, mập và có màu trắng.
Siegesbeckia orientalis L
Vị đắng, tính hàn, hơi độc, quy kinh Can, Thận; khử phong thấp, lợi gân cốt, hoạt huyết thông lạc, giải độc, sát trùng, hạ huyết áp, giảm đau, kháng viêm.
Mọc hoang phổ biến ở vùng đồi núi, ven đường, ruộng hoang khắp Việt Nam (đặc biệt miền Bắc và Trung như Lạng Sơn, Thanh Hóa). Phân bố rộng ở châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ), thích hợp khí hậu ấm, đất ẩm.
Hy thiêm là dược liệu quen thuộc trong y học cổ truyền Việt Nam, được dùng từ lâu để chữa phong thấp, tê bì tay chân, đau khớp và giải độc. Cây mọc hoang phổ biến, chứa hoạt chất darutoside, darutigenol và alkaloid giúp kháng viêm, giãn cơ, hạ huyết áp. Được ghi nhận trong các sách cổ như Bản Thảo Cương Mục và Dược điển Việt Nam, thường dùng dưới dạng sắc uống hoặc đắp ngoài.
Phong thấp, tê tay chân, đau khớp: Hy thiêm 50g, thổ phục linh 20g, rễ cỏ xước 20g, lá lốt 10g; phơi khô, tán bột, vo viên, uống 10-15g/lần, 3 lần/ngày. Cảm mạo, đau đầu: Hy thiêm 12g, tía tô 12g, hành lá 8g; sắc với 550ml nước còn 250ml, uống chia 2 lần/ngày, dùng 3-5 ngày. Viêm gan, vàng da: Hy thiêm 12g, nhân trần 15g; sắc uống, dùng 7-10 ngày. Hạ huyết áp, an thần: Hy thiêm 10g, bá tử 10g; sắc uống ngày 1 thang, dùng 5-7 ngày.
6-12g/ngày (sắc uống), có thể tăng đến 16g cho trường hợp nặng; bột hoặc viên 3-6g/lần. Dùng ngoài: giã đắp. Phụ nữ mang thai, trẻ em dùng thận trọng.
độc nhẹ (gây tê nếu liều cao), không dùng lâu dài hoặc cho người tỳ vị hư hàn, huyết áp thấp. Tham khảo bác sĩ trước khi dùng, đặc biệt kết hợp thuốc Tây
Toàn cây (lá, thân, rễ), dùng tươi hoặc khô.
Uncaria rhynchophylla
ị ngọt, tính hàn
Vuốt lá mỏ, thuộc họ Cà phê
Câu đằng là dây leo thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), được dùng nhiều trong Đông y để an thần, hạ huyết áp, chữa co giật, động kinh, đau đầu do tăng huyết áp. Tên “câu đằng” xuất phát từ đặc điểm cây có gai cong hình móc câu.
Thanh nhiệt, trừ phong, hạ huyết áp
Liều dùng thường là 12-15g/ngày, dạng thuốc sắc
Không có thông tin lưu ý
chọn các mấu có móc câu
Passiflora incarnate
Vị ngọt, hơi đắng, tính mát, quy kinh Tâm, Can; an thần, thanh nhiệt, giải độc, hỗ trợ tiêu hóa, giảm căng thẳng, chữa mất ngủ, đau đầu.
Mọc hoang ở ven rừng, bìa đồi, ruộng hoang, hoặc trồng làm cây cảnh và lấy quả khắp Việt Nam
Chanh dây (lạc tiên) là dược liệu quen thuộc trong y học cổ truyền Việt Nam, nổi tiếng với công dụng an thần, chữa mất ngủ, giảm căng thẳng và hỗ trợ tiêu hóa. Cây chứa alkaloid (harman), flavonoid, giúp thư giãn thần kinh, kháng viêm. Được ghi nhận trong Dược điển Việt Nam, thường dùng dưới dạng trà, sắc uống hoặc ép nước từ quả
Mất ngủ, căng thẳng: Lạc tiên 15g, lá vông 10g, táo nhân 10g; sắc uống trước ngủ 30 phút, dùng 7-10 ngày. Đau đầu, hồi hộp: Lạc tiên 12g, lá sen 10g, tâm sen 6g; sắc uống, dùng 5-7 ngày. Hỗ trợ tiêu hóa: Quả chanh dây chín 1-2 quả, ép nước uống hoặc ăn trực tiếp, ngày 1 lần. Mụn nhọt, ngứa da: Lá lạc tiên tươi giã đắp hoặc nấu nước rửa, 2-3 lần/ngày, dùng 3-5 ngày. Ho do nóng trong: Lạc tiên 10g, lá bạc hà 8g; sắc uống, dùng 3-5 ngày.
Toàn cây 10-20g/ngày (sắc uống hoặc hãm trà); quả tươi 1-2 quả/ngày (ép nước hoặc ăn). Dùng ngoài: giã đắp. Phụ nữ mang thai, người huyết áp thấp dùng thận trọng.
ránh dùng quá liều (gây buồn ngủ, mệt mỏi). Người dị ứng alkaloid hoặc huyết áp thấp nên tránh. Kết hợp với thuốc an thần, huyết áp cần hỏi bác sĩ.
Toàn cây (lá, thân, quả, rễ), dùng tươi hoặc khô; quả chín dùng ăn hoặc ép nước.
Datura metel L
Tính ôn, vị cay, có độc, quy vào kinh phế
Mạn đà la, Cà dược, Cà diên
Cà độc dược mọc hoang và cũng được trồng nhiều nơi, là cây có độc nhưng đồng thời cũng là vị thuốc quý. Các alcaloid trong lá, hoa và hạt có tác dụng an thần, giảm đau, trị ho và hen. Trong y học cổ truyền, cà độc dược được dùng cẩn trọng để chữa hen suyễn, giảm đau nhức, cầm nôn. Tuy nhiên, liều lượng sử dụng phải được kiểm soát chặt chẽ do độc tính mạnh.
Trị ho, trừ suyễn, chống nôn.
Liều uống trong: 0,1 – 0,3 g (dùng dưới dạng chế phẩm, đã qua bào chế loại độc tính). Liều tối đa: 2 g/ngày.
Cà độc dược chứa độc chất mạnh, dùng quá liều có thể gây ngộ độc nặng. Không được tự ý dùng khi không có hướng dẫn của thầy thuốc. Chống chỉ định cho phụ nữ có thai, trẻ nhỏ và người mắc bệnh tim mạch.
Lá, hoa, đôi khi dùng cả hạt.
Solanum procumbensLour
tính ấm, vị hơi the, hơi độc
có tên gọi khác là Cà gai dây, Cà vạnh, Cà quýnh
Cà gai leo là cây dược liệu quen thuộc ở Việt Nam, thuộc họ Cà (Solanaceae). Dân gian thường dùng để chữa các bệnh về gan và giải độc rượu.
có tác dụng tán phong thấp, tiêu độc tiêu đờm, trừ ho, giảm đau, cầm máu. Trong đông y, cây Cà gai leo được dùng trong trị cảm cúm, dị ứng, ho gà, đau lưng, đau nhức xương khớp, rắn cắn; dùng ngoài chữa viêm lợi, viêm quanh chân răng…
Thảo dược khô: 20 – 30 g/ngày, sắc với khoảng 1 lít nước, uống thay nước trong ngày. Thảo dược tươi: 80 – 100 g/ngày, sắc uống.
Không có thông tin lưu ý
Rễ và cành lá.
Citrus limonia Osbeck
vị chua
Vỏ quả chứa tinh dầu và pectin; tinh dầu gồm chủ yếu d-limonen và các hợp chất terpen; dịch quả chứa nhiều axit xitric, axit malic, đường, vitamin C; lá chứa tinh dầu và stachydrin
Chanh là cây được trồng khắp nước ta, chủ yếu để lấy quả làm thực phẩm, đồng thời được dùng trong dân gian và y học làm thuốc.
Không có thông tin bài thuốc
Nước chanh 30–120 g/ngày; rễ chanh sắc uống 6–12 g/ngày; vỏ thân cây 4–10 g/ngày.
Không có thông tin lưu ý
Quả, lá và rễ
Rumex wallichii Meisn. Rume sinensis
Trong rễ và lá chút chít có antraglucozit. Tỷ lệ intraglucôzit toàn phần trung bình là 3-3,4% trong đó chừng 0,47% ở dạng tự do và 2,54% ở dạng kết hợp. Ngoài ra còn có một ít tanin và nhựa.
Cây thân thảo cao đến 1m. Lá hình tim, có mũi nhọn. Cụm hoa chùm ở ngọn. Quả bế, ba cạnh, có đài tồn tại.
Chút chít là cây dược liệu thuộc họ Rau răm (Polygonaceae), mọc hoang nhiều ở nương rẫy, bờ ruộng. Trong y học cổ truyền, cây được dùng để chữa táo bón, vàng da, lỵ và một số bệnh ngoài da.
Có thể dùng uống trong làm thuốc nhuận tràng hay tẩy chữa bệnh tào bón, tiêu hóá kém, ăn uống chậm tiêu, vàng da, lở ngứa, mụn nhọt.
Chữa táo bón: 8-10g sắc uống hàng ngày. Chữa lở loét, mụn nhọt: Giã nát cây tươi đắp tại chỗ.
Không có thông tin lưu ý
Thân rễ và rễ củ.
Reynoutria japonica Houtt
Vị đắng, tính hơi lạnh, quy kinh Can, Đởm, Phế; ác dụng hoạt huyết, thông kinh lạc, giảm đau, kháng viêm, thanh nhiệt, lợi tiểu, hỗ trợ tiêu hóa.
Cây thảo sống lâu năm, cao 0,5-2m, mọc hoang ở vùng đồi núi, ven suối, ven đường (đặc biệt miền Bắc Việt Nam như Lào Cai, Hà Giang) hoặc được trồng. Thân rỗng, có đốt, lá hình trứng, rễ phình thành củ.
Cốt khí củ, còn gọi là Hổ trượng, là cây thuốc quý mọc hoang ở nhiều vùng núi của Việt Nam. Đây là vị thuốc quan trọng trong y học cổ truyền, thường được dùng chữa các bệnh về gan, xương khớp và huyết ứ.
Kinh nguyệt không đều: Cốt khí củ 12g, ích mẫu 12g, sắc uống, dùng 5-7 ngày. Đau bụng kinh: Cốt khí củ 15g, ngải cứu 10g, sắc uống ấm, 3-5 ngày.Thoái hóa đốt sống cổ: Cốt khí củ 15g, cỏ xước 15g, lá lốt 15g, dây đau xương 15g, sắc uống chia 2 lần/ngày.Sưng đau chấn thương: Cốt khí củ 20g, một dược 10g, nhũ hương 6g, sắc uống hoặc giã đắp.Đau khớp phong thấp: Cốt khí củ 15g, độc hoạt 10g, quế chi 6g, sắc uống ấm.
10-15g/ngày (sắc uống); trường hợp nặng dùng 20-30g. Dùng ngoài: giã đắp. Phụ nữ mang thai dùng thận trọng.
Không có thông tin lưu ý
Thân rễ (củ), đôi khi dùng lá hoặc toàn cây (ít hơn).
Premna serratifolia
Vị ngọt, hơi đắng, tính mát.
cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, cao 1–3 m.
Lá cách là cây bụi nhỏ thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae), thường mọc hoang ở bờ rào, ven sông suối và được trồng làm rau ăn, đồng thời là vị thuốc quý trong dân gian. Lá có mùi thơm đặc trưng, thường dùng trong các món ăn dân dã và nhiều bài thuốc trị bệnh.
Chữa đau bụng, đầy hơi, khó tiêu: Lá cách tươi 15–20g sắc với gừng uống. Trị ho, viêm họng: Lá cách tươi giã lấy nước uống, hoặc nấu chung với cam thảo. Thanh nhiệt, mát gan: Lá cách tươi nấu canh ăn hằng ngày. Trị mụn nhọt, sưng đau: Lá cách giã nát đắp ngoài da.
Dùng trong ăn uống: 20–50g lá tươi nấu canh. Dùng thuốc sắc: 10–20g lá khô. Dùng ngoài: lượng vừa đủ giã đắp.
Không có thông tin lưu ý
Lá (tươi hoặc phơi khô).
Euphorbia hirta L
Tính vị: vị cay, hơi đắng, tính mát. Quy kinh: vào kinh phế, tỳ, vị, đại tràng.
Cây cỏ sữa lá lớn, họ: thầu
Cỏ sữa lá lớn (còn gọi là Cỏ sữa, Thiên căn thảo) là cây thuốc nam quen thuộc, mọc hoang khắp nơi ở Việt Nam. Dân gian dùng chủ yếu để chữa tiêu chảy, kiết lỵ, viêm ruột và một số bệnh ngoài da.
Hỗ trợ điều trị hen suyễn, kiết lỵ và tiêu chảy
Dạng toàn cây khô: 15 – 40 g/ngày, sắc uống. Dạng tươi: 30 – 60 g/ngày, giã nát lấy nước hoặc sắc uống. Dùng ngoài: giã đắp lên mụn nhọt, viêm da, vết thương chảy máu (không tính liều lượng).
Không có thông tin lưu ý
Toàn cây
Euphorbia thymifolia L
Vị chua, tính hàn và mát
Cây thân nhỏ, mọc bò sát đất, lá hình bầu dục nhỏ, có nhựa trắng khi bẻ thân hoặc lá
Cỏ sữa lá nhỏ (*Euphorbia thymifolia*) là loài thân thảo mọc bò, cao khoảng 10–20 cm, thân màu đỏ tím, có nhựa mủ trắng. Cây thường mọc hoang nhiều nơi, dễ nhầm với cỏ sữa lá lớn. Cỏ sữa lá nhỏ là vị thuốc quen thuộc trong dân gian để chữa tiêu chảy, kiết lỵ và viêm đại tràng. Cây được thu hái toàn bộ, rửa sạch, phơi khô để dùng dưới dạng thuốc sắc.
Tiêu chảy, lỵ trực khuẩn, viêm ruột, viêm đại tràng
15-20g / 1 ngày
Không dùng cho người tỳ vị hư hàn hoặc tiêu chảy kéo dài do lạnh. Không dùng liều cao.
Toàn cây ( trừ rễ )
Oxalis corniculata L. (Oxalis repens Thunb., Oxalis javanica Blume)
Tính chất của chua me theo đông y: chua (toan), lạnh (hàn), không độc
lá và thân chua me có axit oxalic, oxalat axit kali
Chua me đất hoa vàng mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta, rất hay gặp ở những bãi cỏ hoang. Còn thấy mọc hoang ở châu Âu và các nước khác thuộc châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc, Philipin. Người ta dùng toàn cây hay chỉ dùng lá, thường dùng tươi, ít khi dùng phơi khô
Dùng toàn cây chua me sao vàng sắc uống chữa sốt và chữa lỵ; dùng ngoài (nước sắc hoặc giã cây tươi vắt lấy nước) để rửa các vết loét
Ngày dùng 30 đến 50 g cây hoặc lá tươi, nếu dùng khô chỉ cần 5–10 g, dưới dạng thuốc sắc
Những người có sỏi trong bọng đái không nên dùng vì oxalat có thể làm tăng lượng sỏi. Không nên dùng liều quá cao vì muối oxalat độc với liều 20–30 g
dùng toàn cây hay chỉ dùng lá
a
a
a
a
a
a
a
a
Eleusine indica (L.) Geartn
Tính vị: vị ngọt, nhạt, hơi đắng; tính mát. Quy kinh: can, thận, bàng quang.
Cỏ mần trầu, họ: Lúa (Poaceae)
Cỏ mần trầu là loài cỏ mọc hoang phổ biến khắp nơi ở Việt Nam, thường thấy ở bãi đất trống, ven đường, bờ ruộng. Trong y học cổ truyền, mần trầu được dùng để chữa sốt, cảm nắng, ho, viêm họng và đặc biệt là các chứng bệnh về gan.
Thanh nhiệt, lợi tiểu. Giải độc, hạ sốt. Cầm máu. An thai.
Dùng trong: Tươi: 30 – 60 g/ngày, sắc uống. Khô: 15 – 30 g/ngày, sắc uống. Dùng ngoài: giã nát đắp chữa mụn nhọt, rắn cắn, hoặc nấu nước gội đầu trị rụng tóc, nấm da đầu.
Không có thông tin lưu ý
Toàn thân
Moringa oleifera
Vị hơi cay, ngọt, tính mát. Công dụng: bổ máu, thanh nhiệt, lợi tiểu, chống viêm, hạ đường huyết, hỗ trợ tiêu hóa. Nghiên cứu hiện đại: giàu vitamin, khoáng chất, protein, flavonoid, isothiocyanate, có khả năng chống oxy hóa, kháng viêm, hạ cholesterol.
Thân gỗ nhỏ
Chùm ngây là cây thân gỗ nhỏ, mọc nhanh, phổ biến ở các vùng nhiệt đới Việt Nam. Đây là cây thực phẩm và dược liệu quý, giàu dinh dưỡng, dùng để bổ máu, tăng sức đề kháng, thanh nhiệt, giải độc.
Thanh nhiệt, giải độc: Lá chùm ngây 15–20 g sắc uống hằng ngày. Bổ máu, suy nhược cơ thể: Lá và quả chùm ngây tươi xay nhuyễn, uống. Hạ huyết áp, mỡ máu cao: Lá 20 g, sắc nước uống. Tiêu hóa kém, táo bón: Quả chùm ngây non hấp, ăn kèm.
Lá tươi: 20–30 g/ngày; khô: 10–15 g/ngày. Quả non: 30–50 g/ngày. Hạt: 5–10 hạt/ngày (dùng điều trị huyết áp, thanh lọc máu).
Không có thông tin lưu ý
Lá, quả, hạt, rễ (ít dùng).
Eclipta prostrata (L.) L
Tính vị: vị ngọt, chua; tính lương (mát). Quy kinh: can, thận.
Cây cỏ,cây Cỏ nhọ nồi, Hạn liên thảo
Cỏ nhọ nồi, còn gọi là cỏ mực, là cây thảo mọc hoang khắp nước ta, đặc biệt ở vùng ẩm ướt ven ruộng, bờ mương. Trong dân gian, cây được dùng để cầm máu, bổ huyết, chữa chảy máu cam, chảy máu chân răng và rụng tóc.
Lương huyết, chỉ huyết → trị chảy máu cam, ho ra máu, rong kinh, băng huyết, tiểu ra máu. Bổ thận âm → trị tóc bạc sớm, ù tai, mỏi lưng gối. Thanh nhiệt, giải độc → trị mụn nhọt, viêm họng, viêm gan vàng da.
Dùng trong: Tươi: 30 – 60 g/ngày, giã vắt lấy nước hoặc nấu với nước uống. Khô: 15 – 30 g/ngày, sắc uống. Dùng ngoài: giã nát đắp cầm máu vết thương, hoặc nấu nước gội đầu giúp đen tóc.
Không có thông tin lưu ý
Toàn cây
Imperata cylindrica (L.) Beauv.
Rễ cỏ tranh (Bạch mao căn) có vị ngọt, tính hàn. Vị thuốc này quy vào ba kinh: Thủ thiếu âm Tâm, Túc thái âm Tỳ, và Túc dương minh Vị.
Đường (glucose và fructose), Imperanene , Biphenyl ether cylindol A và B, sesquiterpen cylindren, các lignan gravinon A và B, và các hợp chất phenol khác.
Cỏ tranh là một loài cây thân thảo sống lâu năm với những đặc điểm hình thái nổi bật giúp dễ dàng nhận biết. Thân cây có thể đạt chiều cao trung bình từ 30-90cm. Lá cây hẹp, dài từ 20-50cm và rộng khoảng 3-6mm, với mép lá sắc bén có thể gây đứt tay. Gân lá giữa nổi rõ, trong khi mặt trên lá nhám và mặt dưới lại nhẵn. Bộ rễ mọc ngầm dưới đất, có màu trắng hoặc vàng nhạt, rất dài, dai và chắc khỏe. Phần thân rễ có nhiều nếp nhăn dọc và các đốt, mỗi đốt dài từ 1-3,5cm. Mạng lưới rễ này ăn sâu vào lòng đất, có thể tới 1.2m và chiếm đến 60% tổng sinh khối của cây. Hoa Cỏ tranh mọc thành bông dài, màu trắng bạc, mịn và nhẹ, dễ dàng phát tán nhờ gió.
- Thời điểm thu hoạch tốt nhất là vào mùa đông - xuân (tháng 10-11 hoặc tháng 3-4)
1. Bài thuốc lợi tiểu, chữa bí tiểu, tiểu buốt, tiểu rắt - Bài 1: Rễ Cỏ tranh khô 30g, Mã đề 15g, Râu ngô 10g. Sắc với 1 lít nước, đun nhỏ lửa đến khi còn khoảng 500ml, chia làm 3 lần uống trong ngày. - Bài 2: Hỗn hợp gồm rễ Cỏ tranh khô 30g, Râu ngô 40g, Mã đề 25g, Hoa cúc 5g. Trộn đều các vị, mỗi lần dùng 50g sắc với 750ml nước, uống trong ngày. Uống liên tục trong 10 ngày để cải thiện triệu chứng. 2. Bài thuốc giải độc, làm mát gan - Bài 1: Rễ Cỏ tranh 10g, Cam thảo 10g, Mã đề 15g, Bông mã đề 10g. Rửa sạch, đun sôi với 1 lít nước, uống trong ngày để thanh nhiệt, giải độc và làm mát gan. - Bài 2: Rễ Cỏ tranh tươi (Sinh mao căn) 200g, rửa sạch, nấu với 700ml nước. Khi nước sôi, hạ nhỏ lửa đun thêm 7-10 phút. Dùng nước này uống thay nước lọc hàng ngày. Liệu trình điều trị từ 10-15 ngày. 3. Bài thuốc cầm máu (chảy máu cam, ho ra máu) - Chữa chảy máu cam: + Cách 1: Rễ Cỏ tranh tươi (Sinh mao căn) 80g. Sắc lấy nước uống hàng ngày sau bữa ăn no. Dùng liên tục 7-10 ngày. + Cách 2: Bạch mao căn 36g, Chi tử 18g. Sắc với 400ml nước đến khi còn 100ml. Uống nóng trước hoặc sau khi đi ngủ. Dùng liên tục 7-10 ngày. - Chữa ho ra máu do phế nhiệt: Sinh địa 12g, Rễ Cỏ tranh khô 16g, Rau má 20g, Cỏ mực 20g, Ngân hoa 12g. Sắc thuốc uống 2 lần trong ngày. 4. Bài thuốc hỗ trợ điều trị viêm đường tiết niệu, viêm thận cấp - Viêm đường tiết niệu: Rễ Cỏ tranh khô 10g, Đinh lăng 20g, Kim ngân 20g, Rau dấp cá 20g, Rau má 20g, Kim tiền thảo 20g, Tang diệp 16g, Hương nhu 16g. Sắc lấy nước uống trong ngày, giúp cải thiện tình trạng viêm nhiễm. - Viêm thận cấp: Rễ Cỏ tranh tươi, Cam thảo nam, Kim ngân hoa, Đậu đen, Hoàng đằng, Mã đề... mỗi vị 10g. Sắc chung với 3 bát nước, đến khi còn 1 bát thì uống sau bữa ăn. Dùng trong 15 ngày. 5. Bài thuốc hỗ trợ điều trị sỏi thận: Rễ Cỏ tranh 30g, Cây cối xay 20g, Kim tiền thảo 30g, Cỏ bạc đầu 10g, Mã đề 15g. Sắc uống 2 lần/ngày, áp dụng liên tục trong 30 ngày. 6. Bài thuốc trị ho lâu ngày: Rễ Cỏ tranh khô 20g, Củ gừng 20g, Rễ xương sông 16g, Cam thảo 10g, Bán hạ chế 10g, Trần bì 10g, Tang bạch bì 16g, Cát cánh 12g. Sắc mỗi ngày 1 thang và chia uống 2 lần. Kiên trì sử dụng 3-4 ngày liên tục.
Dạng tươi (Sinh mao căn): 30–35 g mỗi ngày. Dạng khô (Bạch mao căn): 12–20 g mỗi ngày.
- Phụ nữ mang thai và đang cho con bú: Đây là đối tượng được khuyến cáo không nên sử dụng Cỏ tranh một cách tùy tiện mà chưa có sự tư vấn của thầy thuốc. - Người có thể chất hàn (tạng hàn): Do Cỏ tranh có tính hàn, những người có thể chất này (hay bị lạnh bụng, tiêu chảy, sợ lạnh) cần tránh hoặc thận trọng khi sử dụng để không làm mất cân bằng cơ thể. - Người có hư hỏa hoặc suy nhược cơ thể: Dược liệu có thể không phù hợp và làm suy yếu cơ thể hơn - Người có tiền sử dị ứng: Bệnh nhân có tiền sử mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của dược liệu cần tuyệt đối tránh sử dụng. - Trong quá trình sử dụng, nếu xuất hiện các biểu hiện bất thường như đau bụng, buồn nôn, nôn mửa hoặc các dấu hiệu khác, cần ngưng sử dụng ngay lập tức và đến cơ sở y tế gần nhất để được thăm khám và xử lý kịp thời. - Hiệu quả điều trị của dược liệu phụ thuộc vào cơ địa và tình trạng bệnh lý của mỗi người, do đó người bệnh cần kiên trì áp dụng các bài thuốc trong một khoảng thời gian nhất định để thấy được hiệu quả. Đồng thời, không nên lạm dụng dược liệu và luôn tuân thủ đúng liều lượng được khuyến cáo.
Thân rễ (Bạch mao căn), hoa (Bạch mao hoa)
Achyranthes aspera L
Vị đắng, chua, tính mát; quy kinh Can và Thận; tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, thông huyết, giảm đau, mạnh gân cốt.
Mọc hoang nơi ẩm, ven đường, bờ ruộng, đất nhiều mùn; được thu hái quanh năm, rễ thường thu vào mùa cây héo.
Cỏ xước là cây thuốc dân gian phổ biến, nổi bật trong chữa bệnh xương khớp, bổ can-thận, lợi tiểu, điều kinh.
Thấp khớp, đau lưng, nhức mỏi: rễ cỏ xước 20-40 g sắc uống. Viêm thận phù thũng; tiểu tiện không lợi: 15-30 g thuốc sắc. Kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh: phối rễ cỏ xước với ích mẫu, đương quy, nghệ xanh sắc uống.
12-40 g/ngày dạng thuốc sắc; ngoài da giã đắp tùy chứng.
Phụ nữ mang thai hoặc đang hành kinh nên cân nhắc; dùng đúng liều; có thể kích ứng đường tiêu hóa nếu dùng quá nhiều; nếu có bệnh mãn tính nên tham khảo thầy thuốc.
Toàn thân, chủ yếu là rễ phơi hoặc sấy khô.
Croton tonkinensis Gagnep
Vị đắng chát, tính mát; quy kinh Tỳ, Vị, Đại tràng; tác dụng thanh nhiệt, táo thấp, chỉ tả, cầm máu.
Mọc tự nhiên ở rừng thưa, đồi núi thấp, đất khô ráo; có thể trồng bằng hom.
Lá khổ sâm là vị thuốc quen thuộc trong Đông y, chuyên trị tiêu chảy, lỵ, bệnh ngoài da, nhờ tác dụng kháng khuẩn, chống viêm.
Tiêu chảy, kiết lỵ, đau bụng: 8–12 g lá sắc uống. Lở ngứa, chàm: nấu nước lá tắm rửa. Huyết lỵ: phối hợp lá khổ sâm 12 g với lá mơ lông 12 g, sắc uống.
6–12 g/ngày dưới dạng thuốc sắc; ngoài da dùng lượng vừa đủ.
Không dùng kéo dài liều cao; phụ nữ có thai và trẻ sơ sinh thận trọng; người tỳ vị hư hàn tránh lạm dụng.
Lá phơi hay sấy khô.
Cibotium barometz
Vị ngọt, tính ấm; quy kinh Can, Thận; tác dụng bổ can thận, mạnh gân cốt, trừ phong thấp.
Mọc hoang ở rừng ẩm, sườn núi, ven suối vùng nhiệt đới; được khai thác và phơi khô làm thuốc.
Cẩu tích là vị thuốc bổ thận, cường gân cốt quen thuộc trong Đông y, thường có mặt trong các bài thuốc trị đau lưng, yếu khớp.
Đau lưng, mỏi gối, phong thấp: 12–20 g thân rễ sắc uống. Đau khớp, tê bại: phối hợp với Ngưu tất, Đỗ trọng. Tiểu nhiều do thận hư: 8–12 g sắc uống.
8–16 g/ngày dưới dạng thuốc sắc.
Không dùng cho người nhiệt, thấp nhiệt; tránh dùng liều cao kéo dài; loại bỏ lông trước khi dùng để tránh kích ứng.
Thân rễ (lông cẩu tích) đã loại bỏ lông, thái phiến, sấy khô.
Abrus Precatorius L
Dược tính: Vị ngọt hơi đắng, tính bình; tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, hóa đờm, nhuận phế.
Mọc hoang ở bờ rào, ven đường, đồi núi; có thể trồng bằng hạt hoặc hom.
Cam thảo dây là vị thuốc dân gian được dùng thay cam thảo bắc, giúp thanh nhiệt, nhuận phế, hỗ trợ viêm họng, ho và giải độc.
Viêm họng, ho: 12–16 g dây sắc với nước uống. Giải độc, mát gan: phối hợp cam thảo dây 12 g với rễ cỏ tranh 12 g, sắc uống. Viêm dạ dày, đau rát họng: sắc riêng 8–12 g.
8–16 g/ngày dưới dạng thuốc sắc.
Hạt có độc (chứa abrin), không dùng; tránh nhầm lẫn với hạt khi thu hái; không lạm dụng liều cao kéo dài.
Thân và lá phơi hoặc sấy khô.
Blumea lacera (Burm.f.) DC
Vị cay đắng, tính ấm; tác dụng tiêu viêm, thanh nhiệt, giải độc, cầm máu, lợi tiểu.
Cây dược liệu: Mọc hoang nhiều nơi ở ruộng nương, ven đường, bãi đất trống; dễ trồng bằng hạt.
Cải trời là vị thuốc dân gian phổ biến, giúp cầm máu, giảm đau bụng, hỗ trợ tiêu hóa và trị bệnh ngoài da nhẹ.
Đau bụng, rối loạn tiêu hoá: 12 g cải trời sắc uống. Vết thương chảy máu: giã nát lá tươi, đắp ngoài. Tiểu tiện ít, tiểu buốt: phối hợp 12 g cải trời với rễ tranh sắc uống.
8–16 g/ngày dưới dạng thuốc sắc; dùng ngoài lượng vừa đủ.
Không dùng cho người thể nhiệt mạnh hoặc phụ nữ có thai; tránh nhầm với cây khác trong họ Cúc có độc.
Toàn cây, thu hái khi ra hoa, phơi khô.
Raphanus sativus
Theo tài liệu cổ, la bặc tử vị cay, ngọt, tính bình, vào kinh tỳ và phế; có tác dụng hạ khí, định xuyên, tiêu tích, hóa đờm
Hạt chứa chủ yếu là chất dầu, trong đó có hợp chất sunfua; các hoạt chất khác chưa rõ
Củ cải được trồng khắp nơi trong nước ta để lấy rễ củ ăn, lá làm dưa, hạt làm thuốc; từ trước đến nay ta ít thu hoạch để làm thuốc
Giúp tiêu hóa, chữa ho nhiều đờm, nôn mửa; bài “Tam tử dưỡng thân thang”: la bặc tử 10g, tô tử 10g, bạch giới tử 3g, sắc uống trong ngày
Ngày uống 10–15g dưới dạng thuốc sắc
Những người khí hư không dùng được
Hạt, củ và
Chrysanthemum indicum L
Vị ngọt đắng, tính mát; tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tán phong, minh mục (sáng mắt), hạ huyết áp.
Được trồng phổ biến ở vùng đồng bằng và trung du để làm thuốc và trà; ưa khí hậu mát, đất tơi xốp.
Cúc hoa là vị thuốc và trà thảo dược quen thuộc, có hương thơm nhẹ, công dụng thanh nhiệt, giải độc, hỗ trợ tim mạch và mắt.
Nhức đầu, cảm phong nhiệt: 8–12 g hoa sắc uống. Mắt đỏ, chảy nước mắt: hãm 6–8 g với nước sôi uống như trà. Huyết áp cao, mỡ máu: phối hợp Cúc hoa 8 g, Hạ khô thảo 12 g, sắc uống.
6–12 g/ngày; dùng hãm trà hoặc sắc.
Người tỳ vị hư hàn không nên dùng nhiều; tránh uống khi bụng đói vì dễ gây lạnh bụng.
Hoa phơi hoặc sấy khô.
Pluchea indica (L.) Less
Vị đắng cay, tính mát; tác dụng tán phong, tiêu viêm, giảm đau, lợi tiểu, hạ sốt.
Mọc tự nhiên ở bờ ruộng, ven sông, rừng thưa; dễ trồng bằng hom cành.
Cúc tần là cây thuốc dân gian phổ biến, vừa làm rau gia vị vừa dùng chữa nhức mỏi, cảm sốt, bong gân hiệu quả.
Đau nhức xương khớp, phong thấp: 12–20 g lá sắc uống. Cảm sốt, nhức đầu: dùng 8–12 g lá tươi nấu nước xông. Bong gân, bầm tím: giã nát lá tươi, đắp ngoài.
8–16 g/ngày dưới dạng thuốc sắc; dùng ngoài lượng vừa đủ.
Không lạm dụng cho phụ nữ mang thai; người tỳ vị hư hoặc tiêu chảy nên thận trọng khi dùng nhiều.
Lá, rễ, cành non phơi hoặc sấy khô.
Cissus modeccoides
Vị đắng, hơi chát, tính mát; tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, mạnh gân cốt, giảm đau.
Mọc hoang ở bờ rào, ven rừng, nương rẫy; dễ trồng bằng hom.
Chìa vôi là vị thuốc dân gian đa công dụng, thường dùng trị đau nhức, viêm khớp, bong gân, mụn nhọt nhờ tính thanh nhiệt, tiêu viêm.
Đau nhức xương khớp, thoái hóa: 12–20 g thân dây sắc uống. Mụn nhọt, lở ngứa: giã lá tươi đắp ngoài. Bong gân, sưng đau: kết hợp Chìa vôi 12 g, Lá lốt 8 g, Ngải cứu 8 g, sao nóng, đắp.
8–16 g/ngày dưới dạng thuốc sắc; dùng ngoài lượng vừa đủ.
Không dùng quá liều vì dễ gây tiêu chảy nhẹ; phụ nữ có thai nên thận trọng, tránh dùng liều cao.
Thân, lá, rễ phơi hoặc sấy khô.
Abutilon indicum (L.) Sweet
Vị đắng, hơi chát; tính mát; tác dụng giải biểu nhiệt, hoạt huyết, lợi tiểu.
Mọc hoang và được trồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc; dễ trồng bằng hạt.
Cối xay là vị thuốc dân gian giúp giải nhiệt, lợi tiểu, hoạt huyết, hỗ trợ điều trị cảm mạo, tiểu rắt và lở ngứa.
Cảm mạo phong nhiệt, sốt cao, đau đầu: sắc uống 5–10 g dược liệu khô/ngày. Tiểu tiện vàng đỏ, đái rắt, tiểu buốt, phù thũng: sắc uống 10–40 g dược liệu tươi/ngày. Lở ngứa, dị ứng: giã nát đắp ngoài.
5–10 g/ngày dược liệu khô; 10–40 g/ngày dược liệu tươi; dùng ngoài lượng vừa đủ.
Không dùng quá liều để tránh tiêu chảy; phụ nữ có thai thận trọng, tránh dùng liều cao.
Toàn cây trên mặt đất, phơi hoặc sấy khô.
Prunus persica
Vị ngọt, chua, tính bình; tác dụng hoạt huyết, nhuận tràng, lợi tiểu, thông kinh, cầm máu.
Trồng phổ biến ở vùng đồng bằng và trung du; dễ trồng bằng hạt hoặc cành giâm.
Đào không chỉ là cây ăn quả mà còn là vị thuốc quý trong Đông y, được sử dụng rộng rãi trong điều trị nhiều bệnh lý.
Đau vùng tim, ho dồn, bế kinh: 4,5–9 g đào nhân (sao vàng) sắc uống. Phù thũng, đại tiện táo bón: 3–5 g hoa đào khô hãm nước sôi hoặc sắc uống. Mụn nhọt, lở ngứa: Giã lá đào tươi đắp ngoài. Tiểu tiện ra máu: Nhựa đào sao, mộc thông, thạch cao, sắc uống.
4,5–9 g/ngày đào nhân; 3–5 g/ngày hoa đào; dùng ngoài lượng vừa đủ.
Không dùng cho người có thể hư hàn, tiêu chảy; phụ nữ có thai cần thận trọng khi sử dụng.
Nhân hạt (đào nhân), hoa, lá, vỏ, rễ, nhựa.
Hibiscus rosa-sinensis
Thanh nhiệt, kháng viêm, chống oxi hóa.
Antoxyanozit, chất nhày.
Trồng rộng khắp nơi trong Việt Nam để làm cảnh và làm hàng rào. Còn mọc ở Malaysia, Philippines, Indonesia.
Nhân dân rất hay dùng lá và hoa tươi giã nhỏ với một ít muối đắp lên những mụn nhọt đang nung mủ, khô thuốc lại thay. Mụn nhọt sẽ đỡ nhức và chóng vỡ mủ. Vỏ rễ dâm bụt sắc với nước dùng uống để chữa xích và bạch lỵ, bạch đới khí và để rửa mụn nhọt. Tại Trung Quốc người ta dùng vỏ rễ làm thuốc điều kinh, tẩy máu.
Tùy nhu cầu sử dụng.
Không có thông tin lưu ý
Lá, hoa, vỏ rễ.
Catharanthus roseus (L.) G. Don.
Dừa cạn có vị hơi đắng, tính mát.
2 nhóm alkaloid chính (alkaloid monomer và alkaloid dimer (bisindole)), flavonoid, saponin, triterpen và tannin. Tinh dầu của lá và hoa cũng chứa các thành phần như acid linolenic, phytol và limonene.
Dừa cạn là một cây thân thảo sống lâu năm, thường mọc thành bụi. Thân cây vươn thẳng đứng, có thể cao từ 40-80 cm. Phần thân dưới có xu hướng hóa gỗ và phát triển bộ rễ mạnh mẽ, trong khi phần thân trên mềm và nhỏ hơn. Thân cây khi non có màu xanh nhạt và chuyển sang màu đỏ hồng khi già. Lá mọc đối xứng, có cuống ngắn và phiến lá hình thuôn dài, với kích thước trung bình từ 3-8 cm dài và 1-2.5 cm rộng. Đầu lá nhọn và hẹp dần về phía cuống. Gân lá nổi rõ ở mặt dưới, tạo thành hình lông chim. Hoa mọc đơn lẻ từ kẽ lá hoặc ở ngọn cành. Hoa là loại lưỡng tính, có hình ống với 5 cánh mỏng, mềm và mịn. Màu sắc của hoa rất đa dạng, từ trắng, hồng, đỏ đậm cho đến tím, với phần giữa hoa thường có màu vàng hoặc đỏ sậm hơn. Hoa có mùi thơm đặc trưng và nở quanh năm, nhưng nở rộ nhất vào mùa hè.
Cây ưa sáng, cần ít nhất 4-6 giờ ánh nắng mặt trời trực tiếp mỗi ngày để ra hoa đều và có màu sắc rực rỡ. Dừa cạn thích nghi với nhiều loại đất nhưng phát triển tốt nhất trên nền đất tơi xốp, giàu dinh dưỡng, có khả năng thoát nước và giữ ẩm tốt, với độ pH lý tưởng từ 5.8-6.2.
1. Hỗ trợ điều trị ung thư/bạch cầu: Sắc 15g Dừa cạn cùng 30g xạ đen với 1 lít nước, đun cạn còn 700ml, chia 3 lần uống sau bữa ăn. 2. Trị tăng huyết áp: Hãm 40g hỗn hợp các vị thuốc đã sao giòn như Dừa cạn (160g), Cam thảo đất (140g), Cỏ xước (160g),... với 1 lít nước sôi, dùng thay trà hàng ngày. 3. Trị tiêu khát (tiểu đường): Sắc 10g Dừa cạn cùng 20g cây Dây thìa canh với 1 lít nước đến khi còn 3 bát, chia 3 lần uống sau ăn. 4. Trị lỵ trực khuẩn: Sắc 20g Dừa cạn (đã sao vàng hạ thổ) cùng các vị thuốc khác như cỏ sữa, cỏ mực, rau má... với 600ml nước còn 300ml, chia 3 lần uống trong ngày, dùng liên tục 5 ngày. 5. Trị rong kinh: Sắc 20-30g Dừa cạn (toàn cây) đã sao vàng với nước, uống liên tục 3-5 ngày. 6. Trị bỏng nhẹ: Giã nát lá tươi Dừa cạn và đắp lên vết bỏng. Thực hiện 2-3 lần/ngày.
Liều dùng thông thường đối với dược liệu khô là 8-20g thân và lá mỗi ngày, sắc uống.
- Chống chỉ định tuyệt đối: Dừa cạn có độc tính cao nên không được dùng cho phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú, vì nó có thể gây hại cho thai nhi và trẻ sơ sinh. Ngoài ra, những người có tiền sử huyết áp thấp cũng không được sử dụng. - Thận trọng: Cần đặc biệt thận trọng khi dùng dược liệu này cho trẻ em, người cao tuổi hoặc người có các bệnh lý nền nghiêm trọng. - Với độc tính cao và các tác dụng phụ nghiêm trọng, một khuyến cáo quan trọng dành cho mọi người, đặc biệt là sinh viên y học, là tuyệt đối không tự ý sử dụng Dừa cạn để chữa bệnh hoặc nghe theo các bài thuốc truyền miệng mà không có sự hướng dẫn và giám sát của thầy thuốc chuyên khoa. Mọi bài thuốc dân gian chỉ mang tính tham khảo và cần được các chuyên gia y tế thẩm định về liều lượng và tính an toàn trước khi sử dụng.
Toàn bộ cây.
Gardenia jasminoides J. Ellis
Dành dành có vị đắng và tính hàn. Dược liệu này quy vào các kinh Tâm, Phế, Tam tiêu và một số tài liệu khác còn bổ sung kinh Can và Vị.
Nhóm Iridoid và Iridoid Glycoside, nhóm carotenoid, phenol, flavonoid, terpenoid và acid hữu cơ.
Dành dành là một loài cây bụi thường xanh, có chiều cao trung bình từ 1-2m, thân thẳng và phân nhiều cành từ gốc. Cành non của cây thường nhẵn và có các khía rãnh dọc. Rễ của cây thuộc loại rễ chùm. Lá mọc đối xứng hoặc mọc vòng ba lá, có hình dạng từ bầu dục đến trái xoan, bề mặt nhẵn bóng và có màu xanh sẫm nổi bật. Đặc biệt, lá kèm của cây khá lớn, ôm lấy thân và cành như một bẹ. Lá cây có thể thu hoạch quanh năm. Hoa thường mọc đơn độc ở đầu cành vào mùa hè, khoảng từ tháng 5 đến tháng 10. Hoa có màu trắng hoặc trắng ngà và tỏa hương thơm dịu nhẹ. Một điểm đặc biệt là cây có hai dạng hoa chính: hoa đơn với 6 cánh xòe đều và hoa kép với nhiều lớp cánh dày dặn, xoắn vào nhau. Quả cây có hình bầu dục, dài khoảng 3-4.5cm, với 6-7 rãnh dọc nổi rõ. Khi chín, quả chuyển sang màu vàng cam hoặc vàng đỏ, chứa nhiều hạt dẹt bên trong, có mùi thơm nhẹ và vị đắng.
Dành dành là cây ưa sáng nhưng lại không chịu được ánh nắng gay gắt, đặc biệt là vào mùa hè, vì có thể gây cháy lá. Cây cũng ưa ẩm nhưng rất kỵ ngập úng.
1. Trị viêm gan, vàng da: Sắc uống 12g Chi tử, 24g Nhân trần. 2. Trị bong gân, sưng tấy do chấn thương: Dùng quả Dành dành tươi giã nát (số lượng tùy thuộc vào tình trạng vết thương), trộn với lòng trắng trứng gà và bột mì hoặc trộn với một vài giọt rượu trắng. Đắp hỗn hợp này lên vùng bị thương một lần mỗi ngày để giảm đau và chống viêm. 3. Trị các chứng xuất huyết: Đối với chảy máu cam, dùng hạt Chi tử sao cháy đen thành than, tán thành bột mịn rồi thổi vào mũi. Để trị ho ra máu hoặc nôn ra máu, Chi tử sao đen được kết hợp với các vị thuốc khác để tăng cường tác dụng lương huyết chỉ huyết. 4. Trị các chứng bí tiểu, sỏi tiết niệu: Sắc uống hỗn hợp (12g rễ Dành dành, 12g lá Mã đề và 12g Kim tiền thảo), mỗi ngày dùng một thang trong 10 ngày liên tục. 5. Trị đau mắt đỏ, sưng đau: Dùng vài lá Dành dành tươi, rửa sạch, tráng qua nước sôi rồi giã nát. Sau đó cho phần lá nát vào một miếng gạc mỏng và đắp lên mắt đang bị đau.
Liều dùng thông thường của dược liệu Dành dành là 6-12g mỗi ngày , hoặc có thể dao động từ 8-20g tùy theo từng bài thuốc và thể trạng của người bệnh. Một điều quan trọng cần lưu ý là không nên dùng quá 20g mỗi ngày để tránh những tác dụng không mong muốn.
- Chống chỉ định quan trọng nhất là không được sử dụng cho người bị chứng "Tỳ vị hư hàn"- Đây là một hội chứng trong Y học cổ truyền, xuất hiện khi khí Dương ở Tỳ và Vị suy yếu, không đủ khả năng để làm ấm và chuyển hóa thức ăn. Người mắc chứng này thường có các triệu chứng như sợ lạnh, tay chân lạnh, mệt mỏi, chán ăn, đầy bụng, và đặc biệt là tiêu chảy hoặc đi ngoài phân lỏng. - Cần thận trọng khi sử dụng Dành dành cho trẻ em, phụ nữ đang mang thai hoặc cho con bú, và người cao tuổi. Việc tự ý kết hợp các bài thuốc từ Dành dành với thuốc Tây là không được phép. Khi dùng ngoài da, dược liệu này có thể gây ra phản ứng dị ứng ở một số trường hợp nhất định. - Liều lượng và cách dùng dược liệu phải được cá nhân hóa, dựa trên thể trạng, bệnh chứng và sự hướng dẫn cụ thể từ thầy thuốc Y học cổ truyền. Không nên tự ý sử dụng hoặc lạm dụng dược liệu.
Quả (Chi tử), lá, rễ.
Illicium verum H
Vị cay, ngọt; tính ấm; tác dụng tán hàn, kiện tỳ, ôn thận, chỉ thống, lợi tiêu hóa, giảm đau.
Mọc hoang và được trồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang; thu hoạch vào tháng 7–9 và tháng 11–12.
Đại hồi là dược liệu quý trong Đông y, có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa, giảm đau, điều trị các bệnh lý về tiêu hóa và xương khớp.
Đau bụng, đầy hơi, khó tiêu: Dùng 4–8 g đại hồi sắc uống hoặc tán bột uống với rượu ấm. Đau lưng, thấp khớp: Dùng 6–10 g đại hồi tán nhỏ, uống với rượu; kết hợp chườm nóng với lá ngải cứu. Cổ trướng, thũng trướng mãn tính: Tán 2 g đại hồi với 8 g hạt bìm bịp, chia làm 3 lần uống trong ngày. Đái dầm, nôn mửa: Dùng tinh dầu đại hồi, mỗi lần 4 giọt, uống 3–4 lần/ngày.
4–8 g/ngày dưới dạng thuốc sắc hoặc bột; dùng ngoài lượng vừa đủ.
Không dùng cho người có thể hư, hỏa vượng; không lạm dụng vì có thể gây ngộ độc với biểu hiện run tay chân, sung huyết não, phổi và co giật.
Quả đại hồi (tươi hoặc khô), tinh dầu từ quả.
Phyllanthus urinaria L
Vị ngọt đắng, tính bình; tác dụng tiêu độc, thanh can lợi mật, thông huyết, lợi tiểu.
Mọc hoang ở bờ ruộng, ven đường, đất ẩm; dễ trồng bằng hạt.
Diệp hạ châu là dược liệu quý trong Đông y, có tác dụng hỗ trợ điều trị viêm gan, mụn nhọt, lở ngứa, viêm họng, sốt rét, và các bệnh lý về tiêu hóa.
Tiêu độc, thanh nhiệt: Diệp hạ châu 1 nắm, giã nát với ít muối, ép lấy nước uống, bã đắp ngoài. Viêm gan, vàng da: Diệp hạ châu 24g, chi tử 8g, nhân trần 12g, hạ khô thảo 12g, sài hồ 12g. Sắc uống trong ngày. Thông huyết, hoạt huyết: Lá diệp hạ châu và mần tưới mỗi thứ 1 nắm, giã nhỏ, thêm đồng tiện, vắt lấy nước uống; bã đắp vết thương. Sốt rét: Diệp hạ châu 12g, cam thảo đất 12g. Sắc uống hàng ngày.
20–40g/ngày dưới dạng thuốc sắc; dùng ngoài lượng vừa đủ.
Không dùng cho phụ nữ có thai và trẻ em dưới 2 tuổi; có thể gây tiêu chảy nhẹ, không dùng cho người có thể hư hàn; tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
Toàn cây (trừ rễ) phơi hoặc sấy khô.
Rehmannia glutinosa
Vị ngọt, đắng; tính hàn (Sinh địa) hoặc hơi ôn (Thục địa); tác dụng thanh nhiệt, tư âm, dưỡng huyết, bổ thận, cầm máu, lợi tiểu.
Mọc hoang và được trồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Phú Thọ, Vĩnh Phúc; thu hoạch vào tháng 8–9 hàng năm.
Địa hoàng là dược liệu quý trong Đông y, có tác dụng hỗ trợ điều trị nhiều bệnh lý liên quan đến huyết hư, thận âm suy, tiểu đường, thiếu máu, loãng xương, rối loạn tuyến thượng thận, ức chế viêm gan và xơ hóa.
Sinh địa hoàng: Điều trị huyết hư phát nhiệt, thổ huyết, băng huyết, chảy máu cam, kinh nguyệt không đều, động thai, bệnh thương hàn, ôn dịch, phát ban chẩn, cổ họng sưng đau, huyết nhiệt, tân dịch khô.Thục địa hoàng: Trị thận âm suy sinh ra các chứng nóng âm ỉ, bệnh tiêu khát (đái đường), đau họng, khí suyễn (khó thở), hư hoả bốc lên sinh xuất huyết, làm sáng mắt, điều kinh, bổ huyết, sinh tinh, làm cơ thể tráng kiện.
8–16g/ngày đối với Sinh địa hoàng; 12–40g/ngày đối với Thục địa hoàng.
Không dùng cho người có thể hư hàn; có thể gây tác dụng phụ như tiêu chảy, chóng mặt, buồn nôn; tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
Rễ củ (Sinh địa khi tươi, Thục địa khi đã chế biến).
Angelica laxiflora Diels
Tính vị: cay, ngọt, ấm. Quy kinh: thận, bàng quang.
cây độc hoạt, họ Hoa tán
Độc hoạt là vị thuốc quý trong y học cổ truyền, chủ yếu dùng chữa các chứng đau nhức xương khớp, thấp khớp, đau lưng, tê bại chi dưới. Cây mọc ở các vùng núi phía Bắc Việt Nam và Trung Quốc.
Khu phong trừ thấp, giảm đau. Giải biểu, chỉ thống. Thường phối hợp trong các bài thuốc chữa: Thấp khớp, đau lưng, nhức mỏi xương khớp. Cảm mạo phong hàn, đau đầu, mình mẩy đau nhức. Tê liệt, chân tay co quắp do phong thấp.
Rễ khô: 3 – 9 g/ngày, sắc uống (có thể tới 12 g khi phối hợp). Dùng ngoài: giã nát, nấu nước xông trị nhức mỏi khớp.
Không có thông tin lưu ý
rễ
Sesbania sesban
Vị ngọt, hơi đắng, tính mát.
Cây thân thảo hoặc gỗ nhỏ
Sesbania sesban là cây thân bụi hoặc cây gỗ nhỏ, mọc nhanh, phổ biến ở các vùng đồng bằng và ven sông ở Việt Nam. Cây được dân gian sử dụng làm thuốc giải độc, lợi tiểu, chữa viêm họng, mụn nhọt và hỗ trợ điều trị các vấn đề tiêu hóa.
Giải độc, lợi tiểu: Lá tươi 30–50 g sắc uống. Chữa mụn nhọt, lở loét: Lá tươi giã nát, đắp ngoài da. Viêm họng, ho: Hoa và lá 20 g, sắc uống hằng ngày. Tiêu hóa kém, đầy bụng: Quả non 20 g, sắc uống.
Dùng trong: 20–50 g/ngày, sắc uống 1–2 lần. Dùng ngoài: lượng vừa đủ, giã đắp hoặc nấu nước rửa.
Không có thông tin lưu ý
Lá, hoa, quả non.
Excoecaria cochichinensis Lour
Tính vị: vị ngọt hơi đắng, tính mát. Quy kinh: can, tỳ.
Cây đơn mặt trời ( Đơn lá đỏ, Đơn tía, Đơn tướng quân, cây lá liễu)
Excoecaria cochinchinensis, còn gọi là cây mỡ đỏ, là cây bụi thường thấy ở các vùng nhiệt đới Việt Nam. Cây thường được trồng làm cảnh nhưng trong y học dân gian cũng dùng lá và nhựa cây để điều trị một số bệnh ngoài da.
Thanh nhiệt, giải độc. Lương huyết, chỉ huyết. Tiêu viêm, giảm sưng đau.
Dùng trong: Lá tươi: 10 – 30 g/ngày, giã vắt lấy nước hoặc sắc uống. Lá khô: 6 – 12 g/ngày, sắc uống. Dùng ngoài: giã nát đắp lên mụn nhọt, viêm da, loét miệng.
Không có thông tin lưu ý
Lá
Polyscias fruticosa (L.) Harms
Vị ngọt, hơi đắng, tính ấm, quy kinh Tâm, Tỳ, Phế; bổ khí huyết, tăng cường tuần hoàn, an thần, giải độc, kháng viêm, giảm mệt mỏi, hỗ trợ tiêu hóa.
Mọc hoang hoặc trồng làm cây cảnh, hàng rào ở khắp Việt Nam
Đinh lăng là dược liệu quý trong y học cổ truyền Việt Nam, được ví như “nhân sâm của người nghèo” nhờ công dụng bồi bổ cơ thể, tăng cường sức khỏe, an thần và hỗ trợ tiêu hóa. Cây chứa alkaloid, saponin, flavonoid, giúp tăng tuần hoàn máu, kháng viêm, giảm mệt mỏi. Được ghi nhận trong Dược điển Việt Nam, thường dùng dưới dạng sắc uống, ngâm rượu hoặc ăn lá.
Suy nhược, mệt mỏi: Rễ đinh lăng 15g, hoài sơn 10g, ý dĩ 10g; sắc uống, dùng 7-10 ngày. Mất ngủ, an thần: Lá đinh lăng 20g, lá vông 15g, tâm sen 6g; sắc uống trước ngủ 30 phút, dùng 5-7 ngày. Hỗ trợ tiêu hóa: Lá đinh lăng tươi 20g, nấu canh với tôm hoặc thịt, ăn ngày 1 lần. Đau nhức xương khớp: Rễ đinh lăng 12g, cỏ xước 10g, lá lốt 10g; sắc uống, dùng 7 ngày. Tăng cường sức khỏe: Rễ đinh lăng 100g ngâm 1 lít rượu 40 độ, uống 10-15ml/ngày sau ăn.
Rễ 10-20g/ngày (sắc uống hoặc hãm trà); lá 15-30g (nấu canh hoặc sắc). Ngâm rượu: 100g rễ/1 lít rượu, uống 10-20ml/ngày. Phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 5 tuổi dùng thận trọng.
Tránh dùng quá liều (gây chóng mặt, mệt mỏi do alkaloid). Người huyết áp thấp hoặc dị ứng nên thử liều nhỏ trước
Rễ (chủ yếu), lá, thân; dùng tươi hoặc khô.
Kaempferia galanga L
Tính vị: cay, ấm.
Cây địa liền
- Địa liền (Sơn nại, Tam nại) là cây thuốc quý thuộc họ Gừng, phân bố rộng khắp Việt Nam, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia. Vị thuốc là thân rễ thái lát, phơi khô, có mùi thơm đặc trưng. Đông y dùng Địa liền để ôn trung, tán hàn, tiêu thực, giảm đau, trị thấp khớp, làm thuốc xông và ngâm rượu xoa bóp. Ngoài ra, tinh dầu địa liền còn được dùng trong công nghiệp chế nước hoa và bảo quản vải vóc.
tán hàn, trừ thấp, giảm đau (đau bụng lạnh, đầy hơi, phong thấp đau nhức, ho có đờm).
Liều dùng: 3 – 6 g khô/ngày, dùng trong.
Không nên dùng quá liều vì tính cay nóng. - Không sấy than vì dễ làm đen củ, mất mùi thơm. - Thường được dùng nhiều trong dân gian, ít thấy trong các bài thuốc cổ phương lớn.
Thân rễ
Jatropha gossypiifolia L
Tính vị: đắng, hơi độc.
Cây dầu mè
Jatropha gossypiifolia, còn gọi là địa hoàng đỏ, là cây bụi nhỏ, phổ biến ở các vùng nhiệt đới Việt Nam. Cây được dân gian sử dụng trong y học cổ truyền để chữa mụn nhọt, viêm da, lở loét và làm thuốc xổ nhẹ.
Ddùng lá và nhựa trị ghẻ lở, mụn nhọt, tiêu viêm, cầm máu.
Liều dùng: chủ yếu dùng ngoài, giã đắp → không khuyến khích uống vì dễ gây độc.
Không có thông tin lưu ý
Lá, vỏ cây, hạt.
Angelica sinensis (Oliv) Deils
Tính vị: ngọt, cay, ôn.
Cây đương quy
Đương quy là cây thuốc quý, chủ yếu mọc ở Trung Quốc, nhưng được trồng và sử dụng phổ biến ở Việt Nam. Đây là vị thuốc quan trọng trong y học cổ truyền, thường dùng để bổ huyết, điều kinh, giảm đau và tăng cường sức khỏe phụ nữ.
bổ huyết, hoạt huyết, điều kinh, nhuận tràng.
6 – 12 g/ngày, dạng thuốc sắc.
Không có thông tin lưu ý
rễ
Codonopsis pilosula
Tính vị: ngọt, bình.
Cây đẳng sâm, họ Hoa chuông
Đẳng sâm là cây thuốc quý, thường mọc hoang và được trồng ở các vùng núi cao phía Bắc Việt Nam. Đây là vị thuốc bổ khí, tăng cường sức khỏe, dùng thay nhân sâm trong nhiều bài thuốc cổ truyền.
bổ khí, kiện tỳ, ích phế (thay thế nhân sâm trong nhiều bài thuốc).
9 – 30 g/ngày, dạng sắc.
Không có thông tin lưu ý
Rễ
Morus alba L
Vị ngọt, hơi đắng, tính bình.
Thân gỗ nhỏ,
Dâu tằm là cây thân gỗ nhỏ, phổ biến ở nhiều vùng Việt Nam. Trong y học cổ truyền, các bộ phận của cây như lá, quả và rễ đều được sử dụng để chữa ho, mỏi cơ, mất ngủ, tăng cường thị lực và làm thuốc bổ máu.
Ho, viêm họng: Lá dâu 10–15 g, sắc uống. Mỏi cơ, đau lưng: Lá tươi giã nát, đắp hoặc nấu nước tắm. Mất ngủ, an thần: Lá hoặc quả khô 15 g, sắc uống. Tăng cường thị lực: Quả chín 20 g, ăn tươi hoặc chế thành cao.
Dùng uống: 10–20 g/ngày, sắc uống 1–2 lần. Dùng ngoài da: lá tươi giã nát, đắp vừa đủ vùng tổn thương.
Không có thông tin lưu ý
Lá, quả, rễ.
Carica papaya
Vị ngọt, tính mát.
Cây thân thảo
Đu đủ là cây thân thảo lớn hoặc nhỏ, phổ biến ở khắp các vùng nhiệt đới Việt Nam. Trong y học cổ truyền, cây và quả đu đủ được dùng để chữa tiêu hóa kém, táo bón, mụn nhọt, viêm da, đồng thời hỗ trợ lợi sữa và làm thuốc bổ.
Táo bón, tiêu hóa kém: Quả xanh hoặc chín 50–100 g, chế biến ăn trực tiếp hoặc nấu chín. Mụn nhọt, viêm da: Lá tươi giã nát, đắp ngoài da. Lợi sữa: Lá tươi nấu canh ăn kèm thực phẩm khác. Đau bụng do ký sinh trùng: Hạt tươi 10–15 g, nhai trực tiếp hoặc giã nát sắc uống.
Lá tươi: 20–30 g/ngày, giã nát hoặc nấu nước uống. Quả chín: 50–100 g/ngày. Hạt: 10–15 g/ngày, nhai hoặc sắc uống.
Không có thông tin lưu ý
Lá, quả, hạt, nhựa.
Dolichos Lablab Lin
Đậu ván trắng có vị thanh, đắng, tính hàn
Hạt đậu ván trắng
Đậu ván trắng (còn gọi là Bạch biển đậu) là loại dược liệu thuộc nhóm dây leo. Cây có thân góc, lá kép với lá chét hình trứng, hoa mọc thành chùm và quả có hình lưỡi liềm chứa 2–4 hạt màu trắng ngà
dùng dưới dạng sắc hoặc bột để hỗ trợ tiêu hóa và điều trị xích bạch đới.Đậu ván trắng với lá hương nhu được dùng để chữa các chứng đau bụng, không tiêu.
Dùng 8 đến 16g hạt (dạng sắc hoặc bột) cho mỗi liều, tùy vào tính chất bệnh lý cần điều trị. Một số công thức kết hợp có thể yêu cầu từ 4–8g bột cho liều dùng hàng ngày, hoặc dùng 20–30g lá giã nếu là bài thuốc kết hợp với các vị thuốc khác.
Khi thu hái, cần đảm bảo chọn hạt đến từ những cây khỏe mạnh, tránh những mẫu bị hỏng hoặc nhiễm tạp chất. Quá trình phơi khô và chế biến phải được thực hiện cẩn thận để không làm mất đi hàm lượng hoạt chất cũng như tránh nhiễm khuẩn
Bộ phận chính được sử dụng trong dược liệu là hạt của cây sau khi đã qua các công đoạn xử lý.Ngoài ra, tùy theo bài thuốc, đôi khi người ta cũng sử dụng lá hoặc hoa
Momordica cochinchinensis
Tính vị: hạt đắng, hơi độc; màng đỏ ngọt, bình.
Cây gấc
Gấc là cây dây leo nhiệt đới, phổ biến ở Việt Nam, nổi tiếng với quả màu cam đỏ rực rỡ. Trong y học dân gian, quả gấc được sử dụng để bổ máu, tăng cường sức khỏe, hỗ trợ tiêu hóa, làm đẹp da và chống mỏi mắt.
Hạt: hoạt huyết, tiêu thũng, giảm đau (chỉ dùng ngoài). Màng đỏ: bổ dưỡng, giàu vitamin A, tốt cho mắt, da.
Hạt: chỉ dùng ngoài, giã đắp. Màng đỏ: ăn 2 – 5 g/ngày hoặc chế biến thành dầu.
Không có thông tin lưu ý
hạt (mộc miết tử), màng đỏ quanh hạt, dầu gấc.
Boehmeria nivea (L.) Gaudich
Tính vị: ngọt, hàn.
cây gai( cây lá gai)
Gai là cây thân thảo lâu năm, mọc hoang hoặc được trồng để lấy sợi làm vải, đồng thời là cây thuốc dân gian. Cây gai được dùng để cầm máu, chữa viêm da, đau nhức xương khớp và lợi sữa.
an thai, chỉ huyết, lương huyết, giải độc.
12 – 30 g/ngày, sắc uống.
Không có thông tin lưu ý
rễ (nghiến căn), lá.
Zingiber officinale Rosc
Tính vị: cay, ấm.
Cây gừng
Gừng là cây thân thảo lâu năm, phổ biến ở Việt Nam và nhiều nước nhiệt đới. Gừng được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực và y học dân gian, có tác dụng làm ấm, tiêu hóa, giảm đau, chống viêm, giải cảm và hỗ trợ tuần hoàn.
trị đau dạ dày, nôn ói, viêm đường hô hấp, đau nhức xương khớp
Liều dùng: Tươi: 3 – 10 g/ngày. Khô: 2 – 6 g/ngày.
Không có thông tin lưu ý
Cả củ (thân rễ) và lá
Styphnolobium japonicum (L.) Schott, syn. Sophora japonica
Vị đắng, tính bình.
Cây thân gỗ
Hòe là cây thân gỗ nhỏ, thường được trồng làm cảnh và làm thuốc ở Việt Nam. Hoa hòe được dùng nhiều trong y học cổ truyền để thanh nhiệt, cầm máu, hạ huyết áp, và hỗ trợ điều trị các bệnh tim mạch.
Cầm máu, trị chảy máu cam: Hoa hòe 10–15 g, sắc uống. Hạ huyết áp, giảm mỡ máu: Hoa hòe 12–20 g, sắc uống hàng ngày. Tim mạch, chống xơ vữa động mạch: Hoa hòe phối hợp với các vị thuốc khác sắc uống.
10–20 g/ngày, sắc uống 1–2 lần.
Không có thông tin lưu ý
Hoa khô.
Phellodendron amurense Rupr
Vị đắng, tính hàn.
Cây thân gỗ
Hoàng bá là cây thân gỗ nhỏ, mọc hoang hoặc được trồng ở các vùng núi phía Bắc Việt Nam. Vỏ thân và rễ của hoàng bá được dùng làm thuốc chữa viêm, tiêu độc, hạ huyết áp và các bệnh ngoài da.
Viêm gan, vàng da: Vỏ hoàng bá 10–15 g, sắc uống. Viêm da, mụn nhọt: Bột vỏ hoàng bá đắp ngoài da hoặc ngâm rượu bôi. Tiêu chảy, lỵ: Dùng vỏ hoàng bá 5–10 g sắc uống. Hạ huyết áp, giảm mỡ máu: Vỏ hoàng bá phối hợp các vị thuốc khác sắc uống hàng ngày.
5–15 g/ngày, sắc uống 1–2 lần. Ngoài da: bột hoặc ngâm rượu, bôi vừa đủ vùng tổn thương.
Không có thông tin lưu ý
Vỏ thân, vỏ rễ.
Scutellaria baicalensis Georg
Vị: đắng. Tính: hàn. Quy kinh: phế, can, đởm, đại tràng, tiểu tràng.
Cây hoàng cầm, họ: bạc
Hoàng cầm là cây thảo sống lâu năm, chủ yếu được trồng và thu hái ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Rễ hoàng cầm là dược liệu quý trong y học cổ truyền, dùng để thanh nhiệt, tán hỏa, cầm máu và trị các chứng viêm.
Thanh nhiệt, táo thấp. Giải độc, an thai. Chỉ huyết, cầm máu. Trị các chứng: lỵ, tiêu chảy, sốt cao, viêm gan, vàng da, ho ra máu, động thai do nhiệt.
Dạng thuốc sắc: 6 – 15 g rễ khô/ngày.
Người tỳ vị hư hàn, tiêu chảy do lạnh không nên dùng. Không phối hợp tùy tiện với các thuốc kháng sinh, thuốc chống đông → cần theo dõi y bác sĩ. Phụ nữ có thai chỉ dùng khi có chỉ định, vì Hoàng cầm có tác dụng “an thai do nhiệt” nhưng nếu dùng sai có thể gây tác dụng ngược.
Rễ phơi hoặc sấy khô
Cordyline fruticosa (L.) Goepp
Vị nhạt, tính mát
Cây huyết dụ, có thân cao, không phân nhánh, lá màu đỏ tím, hình mác
Huyết dụ (*Cordyline fruticosa*) là loài cây thân thảo hóa gỗ, có thân đứng cao 1–2m, lá lớn màu đỏ tím đặc trưng, thường trồng làm cảnh hoặc làm thuốc. Lá cây được dùng trong Đông y với tác dụng cầm máu, thanh nhiệt, tiêu viêm. Dược liệu thường sử dụng dưới dạng lá tươi hoặc lá khô, sắc uống hoặc nấu thành nước. Huyết dụ mọc phổ biến ở các vùng nhiệt đới, trong đó có Việt Nam.
Chảy máu cam, rong kinh, băng huyết, ho ra máu
20-25g / 1 ngày
Không dùng cho phụ nữ có thai hoặc người tỳ vị hư hàn. Tham khảo ý kiến thầy thuốc khi sử dụng dài ngày.
Lá
Dracaena cambodiana
tính bình, vị đắng chát
cây huyền giác,họ: măng
Dracaena cambodiana là cây gỗ nhỏ hoặc bụi cao, thân có nhựa trong đỏ, được sử dụng trong y học dân gian để cầm máu, giảm đau và chữa các vết thương ngoài da.
hoạt huyết, thông máu, giúp điều trị các vết thương do tụ máu, bầm tím, thấp khớp, đau nhức xương.
8 - 12g/ngày sắc uống.
Không có thông tin lưu ý
lấy phần gỗ của những cây già, lõi đã chuyển màu đỏ nâu.
Pogostemon cablin(Blanco) Benth
Vị cay, tính ấm, quy kinh Phế, Tỳ, Vị; hóa thấp, hòa vị, tán hàn, chỉ nôn, kháng khuẩn, kích thích tiêu hóa, chữa cảm cúm, đầy bụng, nôn mửa.
Mọc hoang hoặc trồng ở vùng đồi núi thấp, đất ẩm, khí hậu mát (Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang). Phân bố rộng ở Đông Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản), thích hợp đất tơi xốp, thoát nước tốt.
Hoắc hương là dược liệu quan trọng trong y học cổ truyền Việt Nam, được dùng để chữa cảm cúm, đầy bụng, nôn mửa và kích thích tiêu hóa. Cây chứa tinh dầu (patchoulene, patchouli alcohol), flavonoid, giúp kháng khuẩn, tiêu thực, tán hàn. Được ghi nhận trong Dược điển Việt Nam V, thường dùng dưới dạng sắc uống, bột hoặc làm gia vị.
Cảm cúm, sốt lạnh: Hoắc hương 10g, lá tía tô 8g, gừng tươi 6g; sắc uống ấm, dùng 3-5 ngày. Đầy bụng, khó tiêu: Hoắc hương 8g, trần bì 6g, sa nhân 4g; sắc uống, dùng 3-5 ngày. Nôn mửa, buồn nôn: Hoắc hương 10g, bán hạ 6g, gừng 4g; sắc uống, dùng 2-3 ngày. Tiêu chảy do lạnh: Hoắc hương 12g, bạch truật 8g, cam thảo 4g; sắc uống, dùng 5-7 ngày. Viêm da, ngứa: Hoắc hương tươi giã đắp hoặc nấu nước rửa, 2 lần/ngày, dùng 3-5 ngày. Hơi thở hôi: Hoắc hương 6g, bạc hà 6g; hãm trà uống ngày 1 lần, dùng 5 ngày.
6-12g/ngày (sắc uống hoặc hãm trà). Dùng ngoài: giã đắp hoặc nấu nước xông. Phụ nữ mang thai, người âm hư hỏa vượng (nóng trong) dùng thận trọng.
Tránh dùng quá liều (gây nóng trong, khô miệng). Người dị ứng tinh dầu hoặc tỳ vị hư nhược nên thử liều nhỏ. Kết hợp thuốc Tây (tiêu hóa, kháng sinh) cần hỏi bác sĩ. Chọn dược liệu sạch, tránh cây mọc gần khu vực ô nhiễm.
Toàn cây (lá, thân, chủ yếu), dùng tươi hoặc khô; đôi khi dùng rễ (ít hơn).
Prunella vulgaris L
Vị đắng, cay, tính hàn
Cây hạ khô thảo
Hạ khô thảo (*Prunella vulgaris L.*) là một loại cây thân thảo thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae). Cụm hoa được sử dụng làm dược liệu, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, chữa các bệnh về gan, mắt, và huyết áp. Cây thường mọc hoang ở vùng núi và trung du, được thu hái vào mùa hè khi hoa nở, sau đó đem phơi hoặc sấy khô để dùng dần.
Trị đau mắt hay chảy nước mắt, tràng nhạc (lao hạch), bướu cổ, sưng vú, viêm tử cung và âm hô, gan mật nhiệt, huyết áp cao, viêm thần kinh da, lở ngứa, mụn nhọt, hắc lào, vẩy nến, lợi niệu chữa tiểu buốt, tiểu rắt.
10 - 20g / 1 ngày
Không dùng cho người tỳ vị hư hàn. Tham khảo ý kiến thầy thuốc trước khi sử dụng.
Cụm hoa và quả
Coptis teeta Wall
Vị: đắng. Tính: hàn. Quy kinh: tâm, can, đởm, vị, đại trường.
cây hoàng liên
Hoàng liên là cây thảo sống lâu năm, thân rễ củ, mọc ở vùng núi cao. Trong dân gian, hoàng liên được dùng để thanh nhiệt, giải độc, chống viêm, điều trị tiêu chảy, viêm loét dạ dày, viêm gan và các bệnh nhiễm khuẩn.
Dùng làm dược liệu chữa kiết lỵ, viêm ruột, tiêu chảy, ăn uống không tiêu, đau mắt đỏ, mụn nhọt. Ngoài ra còn có tác dụng an thần, kháng viêm, khử khuẩn và chống virus.
Dạng thang thuốc: 2 – 5 g rễ khô/ngày. Dùng ngoài: giã nhỏ hoặc nấu nước rửa. Berberin chiết xuất: thường bào chế thành viên nén 50 mg, uống 1–2 viên/lần, ngày 2–3 lần (theo chỉ định).
Không dùng liều cao kéo dài → có thể gây buồn nôn, táo bón, rối loạn hấp thu. Phụ nữ có thai, trẻ nhỏ cần thận trọng. Dược liệu Hoàng liên rất quý, nhiều khi bị nhầm hoặc làm giả bằng loài khác (như Hoàng liên gai, Hoàng liên ô rô).
thân
Pseuderanthemum palatiferum(Wall.) Radlk
Vị đắng, tính hàn, quy kinh Can, Tỳ, Vị; thanh nhiệt giải độc, kháng viêm, kháng khuẩn, tiêu sưng, ổn định huyết áp, hỗ trợ gan thận, chữa tiêu chảy, viêm nhiễm.
Mọc hoang ở rừng mưa nhiệt đới, ven suối, đồi thấp (Tây Ninh, Bình Phước, miền Nam Việt Nam). Thích hợp khí hậu nóng ẩm, đất chua, phân bố rộng ở Đông Nam Á (Thái Lan, Campuchia, Lào).
Hoàn ngọc là dược liệu quý trong y học cổ truyền Việt Nam, được dùng để thanh nhiệt, giải độc, kháng viêm, kháng khuẩn và hỗ trợ điều trị ung thư, viêm nhiễm đường tiêu hóa. Cây chứa flavonoid, alkaloid, giúp đào thải độc tố, ổn định huyết áp, bảo vệ gan. Được ghi nhận trong Dược điển Việt Nam, thường dùng dưới dạng sắc uống, trà hoặc giã đắp.
Ổn định huyết áp: Rễ hoàn ngọc 15g (cây trên 7 năm), lá 10g; phơi khô, sắc uống thay trà hàng ngày. Viêm loét dạ dày, tiêu chảy: Lá hoàn ngọc 15g, trần bì 8g; sắc uống, dùng 5-7 ngày. Viêm gan, giải độc: Lá hoàn ngọc 12g, nhân trần 10g; sắc uống, dùng 7-10 ngày. Cầm máu, tiểu ra máu: Rễ hoàn ngọc 10g, cỏ tranh 15g; sắc uống, dùng 3-5 ngày. Sẹo lồi, mụn nhọt: Lá tươi hoàn ngọc giã đắp ngoài, 2 lần/ngày, dùng 3-5 ngày. Hỗ trợ ung thư (phụ trợ): Lá hoàn ngọc 20g, hãm trà uống, kết hợp theo chỉ định bác sĩ.
10-20g/ngày (sắc uống hoặc hãm trà); dùng ngoài: giã đắp. Phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 6 tuổi dùng thận trọng.
Tránh dùng quá liều (gây tiêu chảy, lạnh bụng). Người tỳ vị hư hàn, huyết áp thấp nên thử liều nhỏ. Kết hợp thuốc Tây (kháng sinh, ung thư) cần hỏi bác sĩ. Chọn cây sạch, tránh hàng kém chất lượng; không dùng lâu dài cho người thể hàn.
Toàn cây (lá, rễ, vỏ), dùng tươi hoặc khô; lá chủ yếu cho trà.
Jasminum sambac
Thư giãn thần kinh.
0,08% chất béo thơm gồm các chất parafin, este formic axteticbenzoic-linalyl, este anthranili metyl và indol.
Được trồng khắp nơi ở Việt Nam để lấy hoa dùng ướp chè hay để làm thơm thức ăn. Muốn dùng rễ, đào lên rửa sạch đất cát. Phơi hay sấy khô mà dùng. Có thể đào rễ quanh năm nhưng tốt nhất vào thu đông. Người ta còn dùng hoa và lá.
Ít dùng làm thuốc. Thường dùng rửa mắt hoặc pha như chè hay sắc uống chữa lỵ. Có khi người ta giã lá vắt lấy nước trộn với lòng trắng trứng đắp lên mắt.
2-4g hoa khô.
Không có thông tin lưu ý
Lá, hoa.
Ocimum tenuiflorum L
Vị: cay. Tính: ấm. Quy kinh: phế, tỳ, vị.
Cây hương nhu tía, họ: hoa
Hương nhu tía là cây thảo sống hàng năm, mọc hoang hoặc trồng làm thuốc ở khắp Việt Nam. Cây được dùng trong y học cổ truyền để chữa cảm sốt, ho, nhức đầu, rôm sảy và các bệnh về đường hô hấp.
Phát tán phong hàn (giải cảm mạo do lạnh). Kiện vị, hành thủy, lợi tiểu. Sát trùng, tiêu viêm. Chữa nhức đầu, sốt rét, cảm cúm, đau bụng đầy hơi, nôn mửa, tiêu chảy. Nước sắc dùng gội đầu trị nấm da đầu, gàu, ngứa.
Dạng thuốc sắc: 10 – 20 g lá tươi hoặc 6 – 12 g khô/ngày. Dạng tinh dầu: vài giọt (pha loãng), dùng xông hoặc thoa ngoài. Trà hương nhu: hãm 5 – 10 g lá khô với nước sôi, uống ấm.
Người âm hư nội nhiệt (hay nóng trong, miệng khô khát) không nên dùng lâu dài. Tinh dầu liều cao có thể gây kích ứng. Phụ nữ mang thai nên thận trọng khi dùng chế phẩm tinh dầu đậm đặc.
Toàn cây (lá, thân, hoa).
Carhamus tinctorius L
Vị cay, tính ấm, quy kinh Can, Tâm; hoạt huyết, thông kinh, phá huyết ứ, kháng viêm, giảm đau, hỗ trợ tuần hoàn máu, chữa đau bụng kinh, bế kinh.
Trồng chủ yếu ở vùng đồi núi thấp, đất tơi xốp, khí hậu khô (Đà Lạt, Lâm Đồng, Gia Lai). Nhập khẩu từ Trung Quốc, Ấn Độ; phân bố rộng ở châu Á, châu Âu, thích hợp khí hậu ôn đới hoặc nhiệt đới khô.
Hồng hoa là dược liệu quý trong y học cổ truyền, được dùng để hoạt huyết, thông kinh, chữa đau bụng kinh, bế kinh, huyết ứ và hỗ trợ tuần hoàn máu. Hoa chứa carthamin, flavonoid, giúp kháng viêm, chống oxy hóa. Được ghi nhận trong Dược điển Việt Nam V, thường dùng dưới dạng sắc uống, trà hoặc ngâm rượu.
Đau bụng kinh, bế kinh: Hồng hoa 6g, ích mẫu 10g, ngải cứu 8g; sắc uống, dùng 5-7 ngày trước kỳ kinh. Huyết ứ, bầm tím: Hồng hoa 8g, đào nhân 6g, xuyên khung 6g; sắc uống, dùng 5-7 ngày. Đau ngực do huyết ứ: Hồng hoa 6g, xuyên khung 6g, xích thược 8g; sắc uống, dùng 5 ngày. Viêm da, mụn nhọt: Hồng hoa 10g, kim ngân hoa 8g; sắc uống hoặc nấu nước rửa, dùng 3-5 ngày. Hỗ trợ tuần hoàn máu: Hồng hoa 5g, đan sâm 10g; hãm trà uống, dùng 7 ngày. Đau khớp do huyết ứ: Hồng hoa 6g, cỏ xước 10g, độc hoạt 8g; sắc uống, dùng 7-10 ngày.
3-10g/ngày (sắc uống hoặc hãm trà). Dùng ngoài: bột rắc hoặc nấu nước rửa. Phụ nữ mang thai, người đang hành kinh hoặc xuất huyết không dùng.
Có thể gây xuất huyết (do hoạt huyết mạnh), tránh dùng cho người máu loãng, rối loạn đông máu. Người dị ứng hoặc tỳ vị hư nhược nên thử liều nhỏ. Kết hợp thuốc Tây (huyết áp, đông máu) cần hỏi bác sĩ. Chọn hoa sạch, tránh hàng mốc hoặc nhuộm màu hóa học.
Hoa (chủ yếu), dùng khô; đôi khi dùng hạt (ít hơn).
Cortex Magnoliae officinalis
Vị đắng, cay, tính ôn, quy kinh Tỳ, Vị, Phế, Đại trường; hóa thấp, tiêu thực, hành khí, tán kết, kháng khuẩn, chữa đầy bụng, nôn mửa, tiêu chảy, đau dạ dày.
Mọc hoang ở rừng núi cao, đất ẩm, khí hậu mát (Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái). Trồng hoặc nhập từ Trung Quốc (Tứ Xuyên, Hồ Bắc). Phân bố rộng ở Đông Á, thích hợp đất sâu, thoát nước tốt.
Hậu phác là dược liệu quan trọng trong y học cổ truyền Việt Nam, được dùng để chữa đầy bụng, khó tiêu, tiêu chảy, nôn mửa và đau dạ dày. Vỏ cây chứa magnolol, honokiol, giúp kháng khuẩn, tiêu thực, hóa thấp. Được ghi nhận trong Dược điển Việt Nam V, thường dùng dưới dạng sắc uống, bột hoặc làm gia vị.
Đầy bụng, khó tiêu: Hậu phác 6g, trần bì 6g, cam thảo 4g; sắc uống, dùng 3-5 ngày. Nôn mửa, buồn nôn: Hậu phác 6g, bán hạ 6g, gừng tươi 4g; sắc uống, dùng 2-3 ngày. Tiêu chảy do lạnh: Hậu phác 8g, bạch truật 8g, hoắc hương 6g; sắc uống, dùng 5-7 ngày. Đau dạ dày do hàn: Hậu phác 6g, hoàng liên 4g, trần bì 6g; sắc uống, dùng 5-7 ngày. Viêm da, mụn nhọt: Vỏ hậu phác nấu nước rửa, 2 lần/ngày, dùng 3-5 ngày. Hỗ trợ tiêu hóa: Hậu phác 4g, sa nhân 4g; hãm trà uống, dùng 5 ngày.
3-10g/ngày (sắc uống hoặc bột). Dùng ngoài: nấu nước rửa hoặc bột rắc. Phụ nữ mang thai, người âm hư hỏa vượng dùng thận trọng.
Tránh dùng quá liều (gây nóng trong, khô miệng). Người tỳ vị hư nhược hoặc dị ứng nên thử liều nhỏ. Kết hợp thuốc Tây (tiêu hóa, kháng sinh) cần hỏi bác sĩ. Chọn vỏ sạch, tránh hàng mốc hoặc lẫn tạp chất.
Vỏ thân, vỏ rễ (chủ yếu), dùng khô; đôi khi dùng lá (ít hơn).
Ocimum basìlicum L. var. basilicum
Không có thông tin dược tính
Trong cây chứa khoảng 0,4–0,8% tinh dầu, tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm nhẹ, dễ chịu. Thành phần tinh dầu thay đổi theo vùng trồng, thường gồm methylchavicol (estragol), linalol, xineol (1,5–2%), cinnamat methyl, eugenol (0,3–2%) và các sesquiterpen (5–9%). Tinh dầu húng quế Việt Nam được ghi nhận chứa tới 80–90% methylchavicol, trong khi tinh dầu châu Âu thường chứa 30–57% estragol cùng các thành phần khác.
Cây có nguồn gốc Ấn Độ – Trung Quốc, trồng rộng rãi ở châu Á và châu Âu; ở Việt Nam dùng làm gia vị, cất tinh dầu và thu hạt làm thực phẩm giải nhiệt
Không có thông tin bài thuốc
Không có thông tin liều lượng
Các loài và vùng trồng Ocimum khác nhau cho tinh dầu khác nhau, nên công dụng và giá trị kinh tế không đồng nhất.
Lá và ngọn có hoa (Herba Ocimi) dùng làm thuốc; toàn cây dùng để cất tinh dầu; quả (hạt) được thu hoạch ở miền Nam để ăn cho mát và giải nhiệt, gọi là hạt é.
Ocimum sanctum
chống oxy hóa, chống viêm, kháng khuẩn, bảo vệ gan, chống stress tế bào và miễn dịch điều hòa
Các hoạt chất chính được phân lập gồm eugenol, ursolic acid, rosmarinic acid, carvacrol, linalool, β-caryophyllene, apigenin, cirsimaritin, estragole, v.v
Ocimum sanctum (Tulsi) là cây thảo truyền thống được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ và Nam Á trong các hệ thống y học Ayurvedic, có vai trò dược liệu từ hàng trăm năm và hiện được nghiên cứu khoa học rộng rãi vì các hoạt tính chống oxy hóa, kháng viêm, kháng khuẩn và hỗ trợ sức khỏe
Không có thông tin bài thuốc
Không có thông tin liều lượng
hưa chuẩn hóa liều lượng thuốc trong lâm sàng; hoạt tính của các hợp chất phụ thuộc vào phương pháp chiết xuất và dạng sử dụng
Lá
Scrophularia kakudensis Franch
Vị đắng, mặn; tính hơi hàn; quy kinh Phế và Thận; tác dụng tư âm, giáng hỏa, giải độc, lợi yết hầu, nhuận táo, hoạt trường.
Cây bắc huyền sâm (Scrophularia buergeriana Miq.) — cây thảo cao 1,5–2m, thân vuông, lá mọc đối, hoa chùm ống màu trắng vàng nhạt.
- Huyền sâm (Radix Scrophulariae) là rễ phơi hay sấy khô của cây bắc huyền sâm. Dược liệu có vị đắng, mặn, tính hơi hàn. Theo y học cổ truyền, huyền sâm được dùng chữa họng sưng đau, viêm họng, viêm amidan, nhiệt phiền khát, lở loét miệng, táo bón, âm hư hỏa vượng. Các nghiên cứu hiện đại ghi nhận huyền sâm có tác dụng trên tim mạch, giảm đường huyết, kháng khuẩn và chống viêm.
Chữa viêm họng, viêm amidan: Huyền sâm 10g, Cam thảo 3g, Cát cánh 5g, Mạch môn đông 8g, Thăng ma 3g; sắc với 600ml còn 200ml, chia uống hoặc súc miệng.
10–12g/ngày
- Người tỳ hư, hay tiêu chảy không nên dùng. Dùng thận trọng ở bệnh nhân tim mạch, huyết áp.
Rễ
Ixora cocconea L
Vị chát, ngọt, tính bình, quy kinh Can, Tỳ; thanh nhiệt, giải độc, cầm máu, kháng viêm, chữa lỵ, tiêu chảy, rong kinh, mụn nhọt.
Mọc hoang hoặc trồng làm cảnh ở vườn nhà, công viên khắp Việt Nam (Đồng Nai, TP.HCM, Hà Nội). Thích hợp khí hậu nhiệt đới, đất tơi xốp, phân bố rộng ở Đông Nam Á, Nam Á, châu Đại Dương.
Hoa trang là dược liệu quen thuộc trong y học cổ truyền Việt Nam, được dùng để thanh nhiệt, cầm máu, chữa lỵ, tiêu chảy, mụn nhọt và rong kinh. Rễ và lá chứa flavonoid, tannin, giúp kháng viêm, kháng khuẩn, làm mát máu. Được ghi nhận trong sách cổ của GS. Đỗ Tất Lợi, thường dùng dưới dạng sắc uống, giã đắp hoặc nấu nước rửa.
Lỵ, tiêu chảy: Lá hoặc rễ hoa trang 20g, rau sam 15g; sắc uống, dùng 3-5 ngày. Rong kinh, băng huyết: Rễ hoa trang 15g, cỏ nhọ nồi 10g; sắc uống, dùng 5-7 ngày. Mụn nhọt, viêm da: Lá hoa trang tươi giã đắp hoặc nấu nước rửa, 2-3 lần/ngày, dùng 3-5 ngày. Cảm sốt, nóng trong: Lá hoa trang 20g, sài đất 10g; sắc uống, dùng 3-5 ngày. Huyết áp cao, nóng gan: Lá hoa trang 15g, cúc hoa 8g; sắc uống, dùng 7 ngày. Viêm họng, ho: Lá hoa trang 20g, cam thảo 4g; sắc uống, dùng 3-5 ngày.
Lá tươi 20-40g/ngày, rễ 10-20g/ngày (sắc uống hoặc giã vắt nước). Dùng ngoài: giã đắp hoặc nấu nước rửa. Phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 6 tuổi dùng thận trọng.
Tránh dùng quá liều (gây lạnh bụng, tiêu chảy). Người tỳ vị hư hàn hoặc huyết áp thấp nên thử liều nhỏ. Kết hợp thuốc Tây (cầm máu, tiêu hóa) cần hỏi bác sĩ. Chọn dược liệu sạch, tránh cây mọc gần khu ô nhiễm; rửa kỹ trước khi dùng.
Lá, rễ (chủ yếu), đôi khi dùng hoa (ít hơn); dùng tươi hoặc khô.
Rosmarinus officinalis
Vị cay, thơm, tính ấm, quy kinh Tâm, Phế, Tỳ; kích thích tuần hoàn, tán hàn, kháng khuẩn, cải thiện trí nhớ, chữa đau đầu, cảm cúm, đầy bụng.
Trồng làm cảnh hoặc gia vị ở vùng đồi núi mát, đồng bằng (Đà Lạt, Lâm Đồng, Hà Nội). Nhập giống từ Địa Trung Hải, phân bố rộng ở châu Âu, châu Á, thích hợp khí hậu ôn đới hoặc nhiệt đới mát, đất thoát nước tốt.
Hương thảo là dược liệu và gia vị phổ biến trong y học cổ truyền và dân gian Việt Nam, được dùng để tăng cường tuần hoàn, cải thiện trí nhớ, chữa đau đầu, cảm cúm và hỗ trợ tiêu hóa. Cây chứa tinh dầu (cineol, camphen), flavonoid, giúp kháng viêm, kháng khuẩn, chống oxy hóa. Thường dùng dưới dạng trà, sắc uống, xông hơi hoặc làm gia vị.
Cảm cúm, đau đầu: Hương thảo 6g, lá bạc hà 6g, gừng tươi 4g; hãm trà uống, dùng 3-5 ngày. Cải thiện trí nhớ, mệt mỏi: Hương thảo 5g, lá bạch quả 6g; hãm trà uống, dùng 7 ngày. Đầy bụng, khó tiêu: Hương thảo 6g, trần bì 6g; sắc uống, dùng 3-5 ngày. Đau nhức cơ, khớp: Lá hương thảo tươi nấu nước xông hoặc giã đắp, 2 lần/ngày, dùng 3-5 ngày. Rụng tóc, gàu: Lá hương thảo 10g, nấu nước gội đầu, 2-3 lần/tuần. Hỗ trợ tuần hoàn: Hương thảo 4g, hoa hòe 6g; hãm trà uống, dùng 5-7 ngày.
4-10g/ngày (hãm trà hoặc sắc uống). Dùng ngoài: nấu nước xông hoặc giã đắp. Phụ nữ mang thai, người huyết áp cao dùng thận trọng.
Tránh dùng quá liều (gây chóng mặt, tăng huyết áp do tinh dầu). Người dị ứng tinh dầu hoặc thể hàn nên thử liều nhỏ. Kết hợp thuốc Tây (huyết áp, thần kinh) cần hỏi bác sĩ. Chọn dược liệu sạch, tránh cây mọc gần khu vực ô nhiễm.
Lá, thân (chủ yếu), dùng tươi hoặc khô; đôi khi dùng hoa (ít hơn).
Plectranthus amboinicus (Lour.) Spreng
Vị cay, thơm, tính ấm, quy kinh Phế, Tỳ; phát hãn, hóa thấp, tiêu đờm, kháng khuẩn, chữa cảm cúm, ho, viêm họng, đầy bụng.
Mọc hoang hoặc trồng ở vườn nhà, đồng bằng, đồi thấp khắp Việt Nam (Đồng Nai, Long An, Hà Nội). Thích hợp khí hậu nhiệt đới, đất ẩm, phân bố rộng ở Đông Nam Á, Ấn Độ, châu Phi.
Húng chanh là dược liệu và gia vị quen thuộc trong y học cổ truyền Việt Nam, được dùng để chữa cảm cúm, ho, viêm họng, sốt và hỗ trợ tiêu hóa. Lá chứa tinh dầu (carvacrol, thymol), flavonoid, giúp kháng khuẩn, tiêu đờm, phát hãn (kích thích tiết mồ hôi). Được ghi nhận trong Dược điển Việt Nam, thường dùng dưới dạng sắc uống, giã vắt nước, nấu nước xông hoặc làm gia vị.
Cảm cúm, sốt, ho: Lá húng chanh tươi 15g, giã vắt nước, thêm mật ong, uống 2 lần/ngày, dùng 3-5 ngày. Viêm họng, ho có đờm: Lá húng chanh 10g, cam thảo 4g; sắc uống, dùng 3-5 ngày. Đầy bụng, khó tiêu: Lá húng chanh 10g, trần bì 6g; hãm trà uống, dùng 3-5 ngày. Ngứa da, côn trùng cắn: Lá húng chanh tươi giã đắp, 2 lần/ngày, dùng 2-3 ngày. Hỗ trợ tiêu hóa: Lá húng chanh tươi 10g, nấu canh hoặc ăn sống, ngày 1 lần. Sốt cao, cần xông: Lá húng chanh 20g, lá sả 10g; nấu nước xông, dùng 1-2 lần/ngày.
Lá tươi 10-20g/ngày (giã vắt nước, sắc uống hoặc hãm trà); khô 5-10g/ngày. Dùng ngoài: giã đắp hoặc nấu nước xông. Phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 2 tuổi dùng thận trọng.
Tránh dùng quá liều (gây nóng trong, kích ứng da do tinh dầu). Người dị ứng tinh dầu hoặc huyết áp cao nên thử liều nhỏ. Kết hợp thuốc Tây (hạ sốt, kháng sinh) cần hỏi bác sĩ. Chọn lá sạch, tránh cây mọc gần khu vực ô nhiễm.
Lá (chủ yếu), dùng tươi hoặc khô; đôi khi dùng thân (ít hơn).
Mentha crispa L.
Vị: cay, the, thơm. Tính: mát.
Không có thông tin thành phần hoá học
Húng lủi là cây thảo sống hàng năm, được trồng phổ biến ở Việt Nam. Cây được dùng làm thuốc chữa ho, cảm cúm, viêm họng, đầy bụng và mẩn ngứa.
Giải cảm, giảm ho, tiêu đờm. Kích thích tiêu hóa, giảm đầy bụng, khó tiêu. Lợi tiểu, thanh nhiệt. Giúp tinh thần tỉnh táo, sảng khoái. Dùng ngoài: xông trị cảm mạo, ngâm rửa giảm ngứa.
Lá tươi: 10 – 20 g/ngày, ăn sống hoặc nấu canh, pha nước uống. Tinh dầu: vài giọt (pha loãng), dùng xông hoặc xoa ngoài. Trà húng lủi: 5 – 10 g lá tươi hoặc khô, hãm với nước sôi, uống ấm.
Không có thông tin lưu ý
Toàn cây (thân, lá, ngọn).
Ocimum gratissimum L
Vị cay, tính ấm; vào phế, vị.
Cây thảo sống một năm, cao 0,5–1,5m; thân vuông, phân nhánh nhiều; lá mọc đối, có cuống, phiến lá hình trứng, mùi thơm đặc trưng; hoa nhỏ, màu trắng, mọc thành chùm ở ngọn thân và kẽ lá.
Hương nhu trắng là dược liệu và gia vị phổ biến trong y học cổ truyền Việt Nam, được dùng để chữa cảm cúm, sốt, đau đầu, kích thích tiết mồ hôi và hỗ trợ tiêu hóa. Cây chứa tinh dầu (eugenol, linalool), flavonoid, giúp kháng khuẩn, tiêu đờm, phát hãn. Được ghi nhận trong Dược điển Việt Nam, thường dùng dưới dạng sắc uống, nấu nước xông hoặc làm gia vị.
Phát tán phong hàn, giải cảm, lợi tiểu, tiêu độc.
8–16g/ngày
Tránh dùng quá liều (gây nóng trong, khô miệng do tinh dầu). Người dị ứng tinh dầu hoặc huyết áp cao nên thử liều nhỏ. Kết hợp thuốc Tây (hạ sốt, kháng sinh) cần hỏi bác sĩ. Chọn dược liệu sạch, tránh cây mọc gần khu vực ô nhiễm.
Toàn cây, thường dùng lá và cành non.
Manilkara zapota
Vị ngọt, chát nhẹ; tính bình; có tác dụng bổ dưỡng, chỉ tả, giúp tiêu hóa.
ây Hồng xiêm (Achras sapota L.) – cây gỗ to, lá bầu dục, hoa đơn độc ở nách lá, quả mọng hình trứng dẹt màu nâu.
- Hồng xiêm (Sabôchê) có nguồn gốc Nam Mỹ, nay được trồng phổ biến ở Việt Nam để lấy quả ăn. Quả chứa nhiều gluxit, chất xơ, vitamin C, có giá trị dinh dưỡng cao. Vỏ và nhựa có tác dụng dược liệu: vỏ chứa tanin chữa ỉa chảy, nhựa chicle dùng sản xuất kẹo cao su. Ngoài ra, hạt chứa dầu béo có thể khai thác kỹ thuật nhưng không dùng trong dân gian.
Vỏ thân: Sắc uống chữa ỉa chảy, sốt (6–12g/ngày). Nhựa chicle: Dùng chế kẹo cao su, kết hợp pepsin làm thuốc chữa ho, hỗ trợ tiêu hóa.
Vỏ thân: 6–12g/ngày. Quả chín: Ăn tươi.
- Hạt có chứa dầu béo và axit xyanhydric, không nên dùng trực tiếp để tránh ngộ độc.
Vỏ thân, quả, hạt, nhựa (chicle)
Leonurus japonicus Houtt
Vị cay, hơi đắng, tính hàn
Cây Ích mẫu
Ích mẫu là cây thuốc quý trong y học cổ truyền, thường dùng để điều trị các vấn đề phụ khoa như điều hòa kinh nguyệt, đau bụng kinh, rong kinh, bế kinh và huyết ứ sau sinh. Ngoài ra, cây còn có tác dụng lợi tiểu, hỗ trợ điều trị viêm thận, cao huyết áp. Ích mẫu mọc hoang và được trồng rộng rãi tại Việt Nam, dễ chăm sóc và thu hái.
Dùng trong điều hòa kinh nguyệt, chữa đau bụng kinh, bế kinh, rong kinh
6–12g mỗi ngày dưới dạng thuốc sắc
Không dùng cho phụ nữ đang mang thai vì có thể gây co bóp tử cung.
Toàn thân trên mặt đất (trừ rễ)
Rhinacanthus nasutus (L.) Kurz
Vị ngọt, tính bình, quy kinh Can, Thận; trừ phong thấp, hoạt huyết, giãn cơ, kháng viêm, chữa đau nhức xương khớp, tê bì, tiểu đường, tiêu diệt côn trùng.
Mọc hoang ở vùng đồi núi thấp, ven rừng, ruộng hoang khắp Việt Nam (đặc biệt miền Nam như Bình Dương, Đồng Nai). Thích hợp khí hậu nhiệt đới, đất ẩm, phân bố rộng ở Đông Nam Á (Thái Lan, Campuchia).
Kiến cô là dược liệu dân gian phổ biến trong y học cổ truyền Việt Nam, được dùng để trừ phong thấp, chữa đau nhức xương khớp, tê bì tay chân và hỗ trợ tiêu hóa. Cây chứa flavonoid, saponin, giúp kháng viêm, giãn cơ, cải thiện độ nhạy insulin. Được ghi nhận trong sách cổ của GS. Đỗ Tất Lợi, thường dùng dưới dạng sắc uống, giã đắp hoặc hãm trà.
Đau nhức xương khớp, phong thấp: Kiến cô 15g, cỏ xước 10g, lá lốt 10g; sắc uống, dùng 7-10 ngày. Tê bì tay chân, đau lưng: Toàn cây kiến cô 20g, rễ xấu hổ 10g; sắc uống, dùng 5-7 ngày. Hỗ trợ tiểu đường: Kiến cô 12g, dây thìa canh 10g; hãm trà uống, dùng 7 ngày (kết hợp theo dõi đường huyết). Tiêu hóa kém, đầy hơi: Kiến cô 10g, trần bì 6g; sắc uống, dùng 3-5 ngày. Mụn nhọt, côn trùng cắn: Lá kiến cô tươi giã đắp, 2 lần/ngày, dùng 2-3 ngày. Trừ muỗi, côn trùng: Lá khô đốt xông hoặc hãm nước tắm, dùng hàng ngày.
10-20g/ngày (sắc uống hoặc hãm trà); dùng ngoài: giã đắp. Phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 6 tuổi dùng thận trọng.
Tránh dùng quá liều (gây kích ứng da hoặc tiêu chảy). Người dị ứng hoặc huyết áp thấp nên thử liều nhỏ. Kết hợp thuốc Tây (tiểu đường, kháng viêm) cần hỏi bác sĩ. Chọn cây sạch, tránh khu vực ô nhiễm; không dùng lâu dài cho người thể hàn.
Toàn cây (lá, thân, rễ), dùng tươi hoặc khô.
Leucaena leucocephala
Vị đắng, tính mát, quy kinh Tỳ, Vị, Đại trường; thanh nhiệt giải độc, tẩy giun, kháng viêm, ổn định đường huyết, ngừa ung thư, hỗ trợ tiêu hóa.
Cây gỗ nhỏ sống lâu năm, cao 3-10m, thân thẳng, vỏ xám nâu, lá kép lông chim, dài 10-20cm. Hoa trắng nhỏ mọc thành chùm, quả dẹt dài 10-20cm chứa 15-20 hạt. Hạt hình thận, cứng, màu nâu đen. Hạt thu hái khi quả chín (mùa hạ-thu), đập lấy, phơi/sấy khô; rễ và vỏ dùng tươi hoặc khô
Keo dậu là dược liệu dân gian phổ biến trong y học cổ truyền Việt Nam, được dùng để tẩy giun, thanh nhiệt, giải độc, hỗ trợ tiểu đường và ngừa ung thư. Hạt cây chứa mimosine (ức chế tế bào ung thư, diệt ký sinh trùng), protein, vitamin, giúp kháng viêm, ổn định đường huyết. Được ghi nhận trong Dược điển Việt Nam và sách cổ của GS. Đỗ Tất Lợi, thường dùng dưới dạng bột, sắc uống hoặc giã đắp.
Tẩy giun đũa: Hạt keo dậu rang vàng 20g, nghiền bột, uống với nước ấm, dùng 2-3 ngày (kết hợp sử quân tử 10g để tăng hiệu quả). Tiểu đường, ổn định đường huyết: Hạt keo dậu 15g, dây thìa canh 10g; sắc uống, dùng 7-10 ngày. Viêm họng, ho khan: Vỏ keo dậu 15g, kim ngân hoa 10g; sắc uống, dùng 3-5 ngày. Ngừa ung thư (phụ trợ): Hạt keo dậu 10g, nghệ 5g; bột uống với nước, dùng 5-7 ngày (kết hợp theo dõi y tế). Tiêu chảy, lỵ: Rễ keo dậu 20g, rau sam 15g; sắc uống, dùng 3-5 ngày. Tránh thai tự nhiên: Vỏ và rễ keo dậu 15g, sắc uống (chỉ dùng theo chỉ định thầy thuốc, tránh lạm dụng).
Hạt 10-20g/ngày (bột hoặc sắc uống); rễ/vỏ 15-30g/ngày. Dùng ngoài: giã đắp. Phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 6 tuổi tránh dùng (do mimosine gây sảy thai).
Có độc tính (mimosine gây bướu cổ, chán ăn nếu liều cao), không dùng lâu dài hoặc tự ý. Người suy giáp, huyết áp thấp, dị ứng nên tránh. Kết hợp thuốc Tây (tiểu đường, kháng sinh) cần hỏi bác sĩ. Chọn hạt sạch, rang trước khi dùng để giảm độc; kiêng ăn sống.
Hạt (chủ yếu), rễ, vỏ cây; dùng khô hoặc tươi.
Xanthium strumarium L
tính ấm, vị ngọt nhạt, hơi đắng, quy vào kinh phế
Cây ké đầu ngựa, họ:
Ké đầu ngựa là cây cỏ dại một năm, mọc hoang nhiều nơi ở Việt Nam. Hạt và toàn cây được dùng làm thuốc trong y học cổ truyền để trị mụn nhọt, đau nhức, sưng viêm, mẩn ngứa và các bệnh về gan thận.
chữa mụn nhọt, lở loét, giảm đau khớp, bướu cổ, hoặc an thần
10 - 16g một ngày, dạng thuốc sắc hay thuốc cao.
Không có thông tin lưu ý
toàn bộ phận phơi khô
Elsholtzia ciliata (Thunb.) Hyland
vị cay, tính hơi nóng, quy kinh can, phế
Rau kinh giới
Kinh giới là cây thảo sống hàng năm, mọc hoang hoặc trồng phổ biến khắp Việt Nam. Cây được dùng trong y học cổ truyền để chữa cảm sốt, ho, đầy bụng, đau bụng và các bệnh ngoài da.
kích thích ra mồ hôi, thúc đẩy tiểu tiện, giảm sốt, giảm các triệu chứng đau nhức và ngứa. Nếu phơi khô quá mức, cây sẽ có tác dụng làm giảm đông máu.
10-16g dược liệu khô hoặc 30g dược liệu tươi mỗi ngày để sắc hoặc hãm
Không có thông tin lưu ý
Toàn cây trên mặt đất
Tabebuia rosea
Vị đắng, tính bình.
Cây Kèn hồng
Kèn hồng là cây gỗ thân gỗ hoặc dây leo thân gỗ, được trồng làm cảnh và làm thuốc ở Việt Nam. Hoa và vỏ cây được sử dụng trong y học dân gian để chữa viêm, mụn nhọt, sưng đau, sốt và các bệnh ngoài da.
Mụn nhọt, sưng đau, viêm ngoài da: Hoa hoặc vỏ cây giã nát, đắp trực tiếp lên vùng tổn thương. Sốt, giải nhiệt: Hoa hoặc vỏ cây sắc uống 10–30 g/ngày. Ngâm rượu: Hoa hoặc vỏ cây 100–200 g, ngâm rượu 1–2 tháng, dùng xoa bóp giảm đau.
10–30 g/ngày, sắc uống 1–2 lần. Ngoài da: giã nát đắp vừa đủ vùng tổn thương. Ngâm rượu: 100–200 g hoa/vỏ cây, xoa bóp khi cần.
Không có thông tin lưu ý
Hoa, vỏ cây, lá.
Urena lobata L
Vị ngọt, hơi đắng, tính mát, quy kinh Tỳ, Phế; thanh nhiệt, giải độc, lợi thấp, trừ phong, nhuận tràng, kháng viêm, chữa phong thấp, táo bón, lỵ, khí hư, đau khớp.
Cây nhỡ cao 0.5-1.5m, thân có lông mịn hình sao. Lá gần tròn, đường kính 4-9cm, gân lá hình chân vịt, mép răng cưa chia thùy, đầu nhọn, cuối bằng. Hoa màu hồng đào, quả có lông. Toàn cây thu hái quanh năm, rửa sạch, dùng tươi hoặc phơi/sấy khô.
Ké hoa đào là dược liệu dân gian phổ biến trong y học cổ truyền Việt Nam, được dùng để thanh nhiệt, giải độc, trừ phong thấp, chữa đau khớp, táo bón, lỵ và hỗ trợ tiểu đường. Cây chứa sterol, axit amin, phenol, giúp kháng viêm, lợi tiểu, tiêu ứ. Được ghi nhận trong Dược điển Việt Nam và sách cổ của GS. Đỗ Tất Lợi, thường dùng dưới dạng sắc uống, giã đắp hoặc bột.
Phong thấp, đau khớp: Ké hoa đào 30g, cỏ xước 20g, lá lốt 15g; sắc uống, dùng 7-10 ngày. Táo bón, khí hư: Rễ ké hoa đào 20g, đại táo 10g; sắc uống, dùng 3-5 ngày. Lỵ, tiêu chảy: Ké hoa đào 30g, rau sam 20g, lá mơ lông 20g, cam thảo 10g; sắc uống, dùng 3-5 ngày. Viêm họng: Ké hoa đào 40g, kim ngân hoa 20g, bồ công anh 12g, rẻ quạt 10g, cam thảo 10g; sắc uống, dùng 3-5 ngày. Bướu cổ đơn thuần: Ké hoa đào 30g, ké đầu ngựa 20g; sắc uống, dùng 7-10 ngày. Hỗ trợ tiểu đường: Rễ ké hoa đào 20g; sắc uống, dùng 7 ngày (kết hợp theo dõi đường huyết).
Khô 20-40g/ngày (sắc uống hoặc bột); tươi 40-80g/ngày. Dùng ngoài: giã đắp. Phụ nữ mang thai, người tỳ vị hư hàn dùng thận trọng.
Có thể gây rối loạn tiêu hóa nếu dùng quá liều. Người thân hàn, suy giáp hoặc dị ứng nên tránh. Kết hợp thuốc Tây (tiểu đường, kháng viêm) cần hỏi bác sĩ. Chọn dược liệu sạch, tránh cây mọc gần khu ô nhiễm; không dùng lâu dài.
Toàn cây (rễ, thân, lá), dùng tươi hoặc khô; lá và rễ chủ yếu.
Lonicera japonica Thunb
Vị: ngọt. Tính: hàn. Quy kinh: phế, vị, tâm.
Cây kim ngân hoa
Kim ngân là cây leo thân gỗ, phổ biến ở Việt Nam. Hoa và lá cây được dùng làm thuốc trong y học cổ truyền để chữa sốt, viêm họng, mụn nhọt, sưng viêm và các bệnh ngoài da.
Thanh nhiệt giải độc. Tán phong nhiệt. Chữa sốt, mụn nhọt, viêm họng, lỵ, viêm nhiễm đường hô hấp.
Hoa khô: 6 – 15 g/ngày, sắc uống.
Không có thông tin lưu ý
hoa, thân lá
Desmodium styracifolium (Osbeck) Merr
Vị: ngọt, nhạt. Tính: mát. Quy kinh: can, thận, bàng quang.
Cây kim tiền thảo
Kim tiền thảo là cây thảo sống lâu năm, mọc hoang hoặc trồng ở nhiều nơi tại Việt Nam. Cây được dùng trong y học cổ truyền để chữa sỏi thận, sỏi mật, viêm tiết niệu, phù thũng và các bệnh về thận.
Thanh nhiệt, lợi thấp. Thông lâm, tán sỏi. Dùng chữa sỏi tiết niệu, viêm đường tiết niệu, phù thũng, vàng da, viêm gan.
Thân lá khô: 20 – 40 g/ngày, sắc uống.
Không có thông tin lưu ý
Toàn thân trên mặt đất.
Lycium sinense Mill
Vị: ngọt. Tính: bình. Quy kinh: can, thận, phế.
Quả chín khô của cây kỷ tử, họ cà.
Kỷ tử là cây bụi hoặc cây nhỏ, trồng phổ biến ở nhiều tỉnh miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Quả chín đỏ được dùng làm thuốc và thực phẩm bổ dưỡng, hỗ trợ sức khỏe mắt, gan, thận và tăng cường sinh lực.
Bổ gan, bổ thận, nhuận phế, mạnh gân cốt. Tăng cường thị lực, chữa các bệnh về mắt như nhìn mờ. Hỗ trợ điều trị suy nhược cơ thể, mệt mỏi, đau lưng mỏi gối. Chữa di tinh, đái tháo đường.
6 – 12 g/ngày, sắc uống hoặc ngâm rượu, nấu canh, hãm trà.
Không có thông tin lưu ý
quả khô
Punica granatum
Vị chát, hơi ngọt, tính mát.
Cây lựu
Lựu là cây gỗ nhỏ hoặc bụi, trồng nhiều nơi ở Việt Nam để lấy quả ăn và làm thuốc. Vỏ quả, hạt và vỏ rễ được dùng trong y học cổ truyền để chữa tiêu chảy, giun sán, viêm loét, mụn nhọt và các bệnh về da.
Tiêu chảy, giun sán: Vỏ quả hoặc hạt tán bột, 5–10 g/ngày, uống hoặc nhai trực tiếp. Viêm loét, mụn nhọt: Vỏ quả hoặc lá giã nát, đắp ngoài da. Hạ huyết áp, chống oxy hóa: Quả chín ăn trực tiếp hoặc làm nước ép.
5–15 g/ngày, sắc uống 1–2 lần hoặc nhai trực tiếp. Ngoài da: giã nát đắp vùng bị tổn thương.
Không có thông tin lưu ý
Vỏ quả, hạt, quả chín, vỏ rễ.
Tradescantia discolor L’Hér
Tính vị: vị ngọt nhạt, tính mát. Quy kinh: phế, thận.
Cây lẻ bạn (cây sò huyết, cây sò tím)
Lẻ bạn là cây thảo sống lâu năm, mọc hoang hoặc trồng làm cảnh ở Việt Nam. Cây được dân gian dùng làm thuốc để giải nhiệt, thanh độc, giảm viêm và điều trị các vết thương ngoài da.
Thanh nhiệt, giải độc. Lợi tiểu. Chữa ho, viêm họng, viêm amidan. Hỗ trợ điều trị tiểu buốt, sỏi thận, viêm đường tiết niệu. Dân gian còn dùng trị rong kinh, băng huyết nhẹ.
Dùng trong: Lá tươi: 50 – 100 g/ngày, giã lấy nước hoặc nấu uống. Lá khô: 20 – 30 g/ngày, sắc uống. Dùng ngoài: giã nát đắp trị viêm da, mụn nhọt, loét.
Không có thông tin lưu ý
toàn cây, thường dùng lá
Aloe vera L
Vị đắng, tính hàn, quy kinh Can, Tỳ, Vị; thanh nhiệt, giải độc, nhuận tràng, sát khuẩn, làm lành vết thương, hỗ trợ tiêu hóa, dưỡng da.
Mọc hoang hoặc được trồng khắp Việt Nam, đặc biệt ở vùng đồng bằng, ven biển.Thích hợp với khí hậu nóng, đất cát, chịu hạn tốt. Phân bố rộng ở các nước nhiệt đới
Lô hội (nha đam) là cây dược liệu phổ biến ở Việt Nam, được dùng trong y học cổ truyền và mỹ phẩm nhờ đặc tính làm mát, kháng viêm, dưỡng da. Nhựa và gel lá chữa táo bón, viêm da, bỏng nhẹ, hỗ trợ tiêu hóa. Cây dễ trồng, được ghi nhận trong Dược điển Việt Nam với nhiều công dụng chữa bệnh.
Táo bón: Nhựa lô hội khô 0.1g, uống với nước ấm, dùng 1-2 ngày (thận trọng). Nóng trong, mụn nhọt: Gel lô hội 15g, nấu với lá bạc hà 10g, uống ngày 1 lần, 5 ngày. iêm loét dạ dày: Gel lô hội 10g, mật ong 5ml, uống trước ăn, 7-10 ngày. Hỗ trợ tiêu hóa: Gel lô hội 10g, nước ép táo 50ml, uống ngày 1 lần, 5-7 ngày.
Gel tươi: 10-20g/ngày (uống hoặc đắp); nhựa khô: 0.05-0.2g/ngày (thuốc xổ). Dùng ngoài: gel bôi trực tiếp. Phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 12 tuổi, người bệnh trĩ tránh dùng nhựa.
Nhựa lô hội có thể gây tiêu chảy nặng nếu dùng quá liều. Không dùng cho người tỳ vị hư hàn, huyết áp thấp. Tránh dùng nhựa lâu dài (gây mất kali). Gel ngoài da nên thử trên vùng nhỏ để tránh dị ứng. Kết hợp thuốc Tây cần hỏi bác sĩ.
el lá (chủ yếu), nhựa lá (thuốc xổ), đôi khi dùng cả lá tươi.
Momordica grosvenori Swingle
tính mát, vị ngọt
Cây la hán
La hán quả là quả của cây dây leo thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae), được trồng nhiều ở Trung Quốc và một số vùng núi phía Bắc Việt Nam. Quả có vị ngọt đặc trưng, được dùng làm nước giải khát và dược liệu quý trong y học cổ truyền.
Thanh nhiệt, giải độc: Dùng làm nước uống mát, trị ho, viêm họng, khản tiếng. Hỗ trợ tiêu hóa: Giúp nhuận tràng, giảm táo bón. Chống oxy hóa: Giúp bảo vệ gan, tim mạch. Thay thế đường: Được chế biến thành chất tạo ngọt tự nhiên cho người tiểu đường, béo phì.
Dạng sắc uống: Dùng 1 quả khô (khoảng 15–30 g), bổ đôi, nấu với 1–2 lít nước, uống thay trà. Có thể dùng chung với cam thảo, hoa cúc… để thanh nhiệt, giải độc. Chữa ho, khản tiếng: Dùng ½–1 quả, sắc đặc, uống ấm từng ngụm. Nhuận tràng: 1 quả sắc lấy nước, uống ngày 1–2 lần.
Không có thông tin lưu ý
Quả (thường là quả khô).
Anoectochilus setaceus
Vị: ngọt, hơi đắng. Tính: mát.
Cây lan kim tuyến
Lan kim tuyến là cây lan quý, mọc rải rác trong rừng ẩm, nhiều nơi ở Việt Nam. Lá và thân cây được dùng làm thuốc bổ thận, ích tinh, làm mát gan, hỗ trợ điều trị tiểu đường và các bệnh về gan.
Tăng cường đề kháng, hệ miễn dịch cho cơ thể Điều trị thần kinh suy nhược: đau đầu, khó ngủ, rối loạn giấc ngủ, ngủ không sâu giấc Điều trị rối loạn tiêu hóa: tiêu chảy, đầy bụng, ợ hơi, ăn không tiêu Tiêu viêm, giải độc, lợi tiểu Điều trị các vấn đề liên quan đến hô hấp: ho, viêm phế quản,...
Dạng thô (sắc uống): 10 – 15 g cây khô/ngày. Ngâm rượu thuốc: thường phối hợp cùng nhân sâm, linh chi để bồi bổ sức khỏe. Dùng ngoài: giã đắp chữa nhọt, vết thương.
Không có thông tin lưu ý
Lá, thân
Cinnamomum camphora N. et E
Vị cay, mùi thơm, tính ấm; có tác dụng sát trùng, tiêu viêm, kích thích, hồi tỉnh cơ tim, giảm đau bụng.
Gỗ, rễ, lá được thu hái, phơi/sấy khô để cất tinh dầu; long não tinh thể thu từ quá trình cất tinh dầu, đóng bánh trắng, mùi thơm, dễ thăng hoa.
-Cây Long não có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bản, được trồng ở nhiều nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Toàn cây chứa tinh dầu và long não tinh thể. Long não dùng phổ biến trong y học cổ truyền và hiện đại: làm thuốc sát trùng, tiêu viêm, hồi tỉnh tim mạch, xoa bóp giảm đau. Ngoài ra, còn ứng dụng trong công nghiệp (chế ngà voi nhân tạo, phim ảnh, chất cách điện, dung môi, thuốc trừ sâu).
Long não đặc: Dùng ngoài dạng dầu/cồn (5–10%) làm thuốc sát trùng, tiêu viêm, xoa bóp. Dùng trong: Tiêm dung dịch dầu 10–20% để hồi tỉnh cơ tim, chữa trụy tim, suy nhược; uống giảm đau bụng, cầm tiêu chảy (0,05–0,20g/ngày). Lá, cành: Có thể dùng xông chữa cảm cúm.
Dùng ngoài: cồn/dầu long não 5–10%. Dùng trong: 0,05–0,20g/ngày (dưới sự hướng dẫn y tế).
- Không lạm dụng đường uống vì có thể gây ngộ độc; phụ nữ có thai và trẻ nhỏ không dùng đường uống.
Gỗ, lá, rễ, tinh dầu.
Piper lolot C. DC
Vị cay, tính ấm; có tác dụng ôn trung tán hàn, giảm đau, trừ thấp, chỉ thống, chống ra mồ hôi tay chân.
Cây Lá lốt – thân thảo cao đến 1m, thân có lông, lá hình tim nhọn đầu, phiến lá rộng 8–13cm, cuống lá dài 2,5cm, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông mịn; hoa mọc thành bông ngắn.
Lá lốt là cây thảo thuộc họ Hồ tiêu, mọc nhiều nơi ở Việt Nam. Ngoài vai trò làm gia vị, lá lốt còn được nhân dân dùng làm thuốc trị đau nhức xương khớp, thấp khớp, tê thấp, ra mồ hôi tay chân, đau bụng lạnh. Có thể dùng tươi hoặc phơi khô. Rễ thường được thu hái vào tháng 8–9 để làm thuốc.
Đau xương khớp, thấp khớp, tê thấp, đau bụng lạnh, đi ngoài lỏng: 5–10g lá khô hoặc 15–30g lá tươi, sắc uống. Ra mồ hôi tay chân: sắc lá lốt lấy nước, ngâm tay chân. Bài thuốc chữa đau nhức xương khớp: Lá lốt + rễ bưởi bung + rễ vòi voi + rễ cỏ xước, mỗi vị 15g khô, sắc với 600ml nước còn 200ml, chia 3 lần uống/ngày.
Lá khô: 5–10g/ngày. Lá tươi: 15–30g/ngày.
Không dùng quá liều vì có thể gây nóng trong, táo bón; phụ nữ mang thai nên thận trọng.
Lá, thân, rễ.
Tabernaemontana divaricata
Vị: đắng. Tính: mát. Quy kinh: tâm, can.
Còn gọi là Ngọc lan tây, Bông sứ kép, Hoa lài trâu, thuộc họ Apocynaceae (Trúc đào). Đây vừa là cây cảnh, vừa có giá trị làm thuốc trong dân gian.
Lài Tây là cây thảo mùi thơm, trồng phổ biến làm cảnh và lấy tinh dầu ở nhiều nơi tại Việt Nam. Hoa và lá cây được dùng trong y học dân gian để giảm căng thẳng, mất ngủ, đau đầu, viêm da và các bệnh hô hấp nhẹ.
Thanh nhiệt giải độc. Tiêu thũng, chỉ thống (giảm đau). An thần, hạ sốt.
Lá: 8 – 15 g khô/ngày, sắc uống. Rễ/vỏ thân: 4 – 8 g sắc uống, hoặc ngâm rượu xoa bóp. Hoa: Pha trà an thần, giảm căng thẳng.
Cây thuộc họ Trúc đào, có alkaloid → nếu dùng liều cao có thể gây độc (nôn, chóng mặt). Chỉ nên dùng theo liều lượng dân gian, tốt nhất dưới hướng dẫn thầy thuốc.
Lá, rễ, vỏ thân, hoa. Dùng tươi hoặc phơi khô.
Passiflora foetida
Vị ngọt, hơi đắng, tính mát; có tác dụng an thần, gây ngủ nhẹ, chữa mất ngủ, tim hồi hộp, bồn chồn, giảm lo âu.
Cây Lạc tiên – dây leo, thân mềm có nhiều lông, lá hình tim, chia 3 thùy nông, mép lượn sóng, hoa màu trắng hơi tím nhạt, quả trứng dài 2–3cm.
- Lạc tiên (Passiflora foetida L.) là cây dây leo mọc hoang ở nhiều nơi tại Việt Nam.
- Trước kia chủ yếu được ăn quả, từ năm 1940 mới được dùng làm thuốc an thần.Toàn cây trừ rễ dùng tươi hoặc khô, chế thành thuốc sắc, cao lỏng hoặc rượu thuốc.
- Ngoài ra, các loài Passiflora incarnata và Passiflora coerulea ở châu Âu cũng được dùng làm thuốc chính thức với tác dụng an thần, chống co thắt, chữa mất ngủ, hồi hộp và suy nhược thần kinh.
Mất ngủ, tim hồi hộp, bồn chồn: 6–16g cây khô sắc uống. Thuốc cao lạc tiên: Cây lạc tiên 50g, lá vông 30g, lá dâu tằm 10g, liên tâm 2,2g, thêm đường và dung môi thích hợp → làm cao lỏng, dùng chữa mất ngủ, hồi hộp. Dùng kết hợp với tim sen, lá dâu để tăng tác dụng an thần.
Dùng 6–16g cây khô/ngày dưới dạng thuốc sắc hoặc pha rượu. Cao lạc tiên: 2–4 thìa canh/ngày (trẻ em: 1–2 thìa cà phê), uống trước khi đi ngủ.
- Quả chín có chứa một lượng nhỏ axit xyanhydric, tuy nhiên trẻ em ăn thường không gây ngộ độc. Dùng đúng liều, không nên lạm dụng kéo dài.
Toàn cây (trừ rễ).
Tamarindus indica
Cơm quả me dùng pha nước uống khi sốt, bệnh về gan, tiêu hóa; gỗ sắc uống nhuận tràng, thông tiểu; vỏ chữa ỉa chảy, viêm lợi răng; lá nấu nước tắm ghẻ
Quả chứa hơn 10% acid hữu cơ (acid citric, tartaric, malic), kali bitartrat, đường, gôm, pectin, xơ và nước. Hạt chứa glucozan, xylan, proteit, chất béo, sáp và muối vô cơ.
Cây me là cây to, cao 15–30m, tán rất rộng, được trồng phổ biến ở nhiều tỉnh nước ta và nhiều nước nhiệt đới, thường trồng làm cây bóng mát, có nơi mọc gần như thành rừng
Quả me giã nát, lọc bỏ xơ và hạt, đun với xi rô thành dạng đặc; mỗi ngày dùng 10–30g pha nước uống giải khát, nhuận tràng
Người lớn dùng 20–120g cơm quả/ngày. Trẻ 3 tuổi dùng 5g; 5 tuổi 5–10g; 12 tuổi dùng 10–30g
a
Quả (cơm quả), đôi khi dùng vỏ cây, lá cây.
Ophiopogon japonicus (L.f) Ker-Gawl
Vị: ngọt, hơi đắng. Tính: hàn (mát). Quy kinh: tâm, phế, vị.
Còn gọi là Mạch môn đông, tóc tiên thảo, thuộc họ Mạch môn (Convallariaceae, trước đây xếp vào Liliaceae). Đây là vị thuốc quý thường dùng trong Đông y để dưỡng âm, nhuận phế, sinh tân.
Mạch môn là cây thân thảo, mọc rải rác ở vùng núi và trung du Việt Nam. Rễ củ của cây được dùng làm thuốc bổ phổi, dưỡng âm, nhuận phế, hỗ trợ chữa ho khan, viêm họng và táo bón.
Dưỡng âm, thanh phế, nhuận phế chỉ khái (trị ho khan, ho lao, ho lâu ngày). Sinh tân dịch, chỉ khát (trị khát nước, miệng khô). Nhuận tràng, thông tiện. An thần nhẹ.
Sắc uống: 6 – 16 g/ngày (rễ củ khô). Hoặc phối hợp trong các thang thuốc cổ phương (như Mạch môn đông thang). Có thể dùng tươi (gấp đôi liều khô).
Người tỳ vị hư hàn, tiêu chảy không nên dùng nhiều. Dùng liều cao có thể gây tiêu lỏng.
Rễ củ (củ mạch môn) – hình thoi, trắng ngà, mọng nước.
Strychnos nux-vomica L
Vị đắng; tính hàn; có độc mạnh.
Còn gọi là Đoạn trường thảo, Mác hoa trắng, thuộc họ Mã tiền (Loganiaceae). Đây là vị thuốc rất độc trong Đông y, chỉ dùng khi đã qua chế biến (chế mã tiền).
Strychnos nux-vomica là cây gỗ nhỏ hoặc vừa, mọc ở rừng nhiệt đới và bán nhiệt đới Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Hạt của cây có độc tính cao, dân gian dùng dưới dạng thuốc sắc, ngâm rượu sau khi đã chế biến cẩn thận để chữa đau lưng, tê liệt, thấp khớp và các bệnh thần kinh.
Kích thích thần kinh, cơ bắp (liều nhỏ). Tiêu viêm, chỉ thống, hoạt huyết, tiêu thũng.
0,05 – 0,1g/ngày (dạng đã chế biến)
Độc tính cao, dễ gây ngộ độc → co giật, cứng hàm, khó thở, tử vong. Chỉ dùng khi có thầy thuốc chỉ định. Không dùng cho phụ nữ có thai, trẻ em, người suy nhược nặng.
Hạt
Garcinia mangostana
Vị chua, hơi đắng, tính mát.
Cây gỗ nhỏ đến trung bình
Măng cụt là cây ăn quả nhiệt đới, được trồng rộng rãi ở các tỉnh phía Nam Việt Nam. Vỏ quả, lá và nhựa cây được dùng trong y học dân gian để chữa tiêu chảy, kiết lỵ, mụn nhọt, viêm họng và các bệnh viêm nhiễm.
Tiêu chảy, kiết lỵ: Vỏ quả 10–20 g sắc uống 1–2 lần/ngày. Mụn nhọt, viêm da: Vỏ quả hoặc lá giã nát, đắp trực tiếp lên vùng tổn thương. Viêm họng: Vỏ quả giã nát, vắt lấy nước súc miệng.
Sắc uống: 10–20 g vỏ quả/ngày, chia 1–2 lần. Ngoài da: giã nát đắp vừa đủ vùng tổn thương.
Không có thông tin lưu ý
Vỏ quả, lá, nhựa.
Mimosa pudica L
Vị: ngọt, hơi đắng. Tính: mát. Quy kinh: can, tâm.
Còn gọi là Trinh nữ, Cây xấu hổ, thuộc họ Đậu (Fabaceae). Đây là vị thuốc dân gian quen thuộc, vừa có đặc điểm thú vị (lá cụp khi chạm), vừa có nhiều ứng dụng y học cổ truyền.
cây thảo nhỏ, mọc hoang ở nhiều vùng Việt Nam, thường dùng làm thuốc dân gian để chữa đau nhức, viêm da, mụn nhọt, đi ngoài ra máu và bệnh phụ khoa.
An thần, trấn tĩnh. Giải độc, tiêu viêm. Chỉ thống (giảm đau). Thu liễm, cầm máu nhẹ.
Dùng trong: 15 – 30 g cây khô/ngày (sắc uống). Dùng ngoài: Lá giã đắp trị vết thương, sưng viêm.
Không dùng cho phụ nữ có thai (có thể gây co bóp tử cung). Người huyết áp thấp thận trọng khi dùng nhiều. Dùng liều cao có thể gây buồn ngủ nhiều.
Rễ, lá, thân (toàn cây).
Annona squamosa
Không có thông tin dược tính
Lá có một ancaloit vô định hình. Hạt chứa 39,5–42% dầu, các axit béo và ancaloit anonain; có chất độc. Quả chứa glucoza, sacaroza, tinh bột và protit
Mãng cầu ta được trồng ở khắp nơi trong nước ta, nhiều và ngon nhất là giống na dai
Lá mãng cầu ta chữa sốt rét; hạt na giã nhỏ nấu nước trừ chấy rận; có thể ngâm hạt vào rượu để xoa đầu
Lá chữa sốt rét: người lớn 20 lá, trẻ em 10 lá; dùng một liều/ngày, 3–4 ngày
Nhân hạt mãng cầu ta rất độc, tránh để thuốc hoặc nước hạt mãng cầu ta bắn vào mắt; không nhấm hoặc ăn nhân hạt
Lá, hạt và quả
Plantago major L
Vị: ngọt. Tính: hàn. Quy kinh: can, thận, bàng quang, phế.
Còn gọi là Xa tiền thảo, thuộc họ Mã đề (Plantaginaceae). Đây là vị thuốc quen thuộc trong Đông y, thường dùng để lợi tiểu, thanh nhiệt, giải độc.
Mã đề là cây thảo sống lâu năm, mọc hoang ở nhiều nơi Việt Nam. Lá và hạt của cây được dân gian dùng làm thuốc chữa viêm họng, ho, mụn nhọt, tiểu ra máu, và táo bón.
Thanh nhiệt, lợi thủy, thông lâm (chữa tiểu buốt, tiểu ít, sỏi tiết niệu). Thanh phế, chỉ khái (giảm ho, nhiều đờm). Minh mục (sáng mắt). Hạt (Xa tiền tử): nhuận tràng nhẹ.
Xa tiền thảo (toàn cây): 15 – 30 g khô/ngày, sắc uống. Xa tiền tử (hạt): 6 – 12 g/ngày, sắc uống hoặc tán bột. Dùng ngoài: Lá giã nát, đắp trị viêm da, mụn nhọt.
Vì có tác dụng lợi tiểu mạnh, không dùng cho người tiểu đêm nhiều, tiểu tiện không tự chủ. Phụ nữ có thai không nên dùng nhiều hạt (Xa tiền tử).
Toàn cây (Xa tiền thảo) và hạt (Xa tiền tử).
Costus speciosus Smith
Vị: cay, hơi đắng. Tính: ấm. Quy kinh: tỳ, vị, phế.
Còn gọi là Địa la kim, Tiết lan, Mía giò, thuộc họ Gừng (Zingiberaceae). Đây là cây dược liệu vừa được dùng trong Đông y, vừa được nghiên cứu hiện đại.
cây thân thảo sống lâu năm, mọc hoang hoặc trồng làm cảnh ở nhiều tỉnh Việt Nam. Thân rễ và củ được dùng trong y học dân gian để chữa sốt, viêm họng, phù thũng, đau nhức xương khớp và bệnh tiểu đường.
Tiêu đàm, chỉ khái (giảm ho, nhiều đờm). Hành khí, hoạt huyết, giảm đau. Thanh nhiệt giải độc. Chữa thấp khớp, đau nhức, rối loạn tiêu hóa.
Dùng trong: 6 – 12 g thân rễ khô/ngày (sắc uống). Dùng ngoài: Thân rễ giã đắp trị sưng viêm, đau nhức.
Không dùng liều cao vì có thể gây kích ứng đường tiêu hóa. Phụ nữ có thai thận trọng khi dùng.
Chủ yếu thân rễ, đôi khi dùng lá.
Lasia Spinosa
Vị: cay, ngọt, hơi đắng. Tính: ấm. Quy kinh: can, tỳ, vị.
Còn gọi là Ráy gai, Xà lách gai, thuộc họ Ráy (Araceae). Đây là cây thuốc dân gian ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam và Đông Nam Á.
cây thảo sống lâu năm, mọc hoang ven suối, bờ ruộng và ao hồ ở nhiều tỉnh Việt Nam. Thân, lá và củ của cây được dùng trong dân gian để chữa tiêu chảy, phù thũng, đau bụng, mụn nhọt và các bệnh về đường tiêu hóa.
Khu phong, trừ thấp. Thanh nhiệt, giải độc. Tiêu viêm, chỉ thống (giảm đau). Lợi tiểu, tiêu thũng.
Dùng trong: 15 – 30 g thân rễ khô/ngày (sắc uống). Dùng ngoài: Lá tươi giã nát, đắp lên vết sưng, viêm da.
Thân và lá tươi có nhiều tinh thể calci oxalat hình kim, dễ gây ngứa rát, kích ứng, nên nấu chín kỹ hoặc phơi khô mới dùng. Không dùng cho phụ nữ có thai.
Thân rễ, lá non.
Celosia argentea L
Vị: ngọt, mát. Tính: lương (mát). Quy kinh: can, tỳ.
Còn gọi là Bạch kê quan hoa, Thanh tương tử, thuộc họ Rau dền (Amaranthaceae). Đây là vị thuốc dân gian, vừa làm cảnh vừa dùng chữa bệnh.
Mào gà trắng là cây thảo nhỏ, thường mọc hoang hoặc được trồng làm cảnh và rau ăn. Cây được dân gian dùng để chữa sốt, viêm họng, chảy máu cam, mụn nhọt và phù thũng.
Thanh can, minh mục (mát gan, sáng mắt). Lương huyết, chỉ huyết (cầm máu). Thanh nhiệt, giải độc. Trừ thấp, chỉ lỵ (chữa tiêu chảy, kiết lỵ).
Hoa, hạt khô: 10 – 20 g/ngày, sắc uống. Có thể phối hợp với các vị khác trong thang thuốc.
Không dùng quá liều (vị thuốc tính hàn, dễ gây lạnh bụng, tiêu chảy). Phụ nữ có thai, người tỳ vị hư hàn cần thận trọng.
Hoa và hạt.
Artocarpus heterophyllus
Chống oxi hóa.
11% đường (fructoza, glucoza), một ít tinh dầu mùi thơm, 1,6% protit, 1-2% muối khoáng bao gồm canxi (18mg%), photpho (25 mg%), sắt (0,4 mg%), caroten(0,14 mg%), vitamin B2 (0,04 mg%), vitamin C (4 mg%).
Mít được trồng khắp các tỉnh ở nước ta. Còn thấy cả ở Lào, Campuchia. Chủ yếu người ta trồng để lấy quả ăn. Quả non luộc làm rau ăn. Hạt nướng hay luộc ăn ngon, thơm và bùi, gỗ quý, màu vàng, không mọt, dùng làm nhà, làm đồ đạc và tạc tượng. Dùng làm thuốc, thường người ta chỉ hay dùng lá mít tươi. Khi dùng đến mới hái. Một số nơi dùng gỗ mít làm thuốc an thần. Dùng gỗ tươi hay khô.
Lá mít làm thuốc lợi sữa cho trâu, bò, dê, lơn và người. Phụ nữ đẻ ít sữa dùng lá mít nấu uống làm cho ra sữa hoặc thêm sữa. Ngày dùng 30 đến 40g lá tươi. Gỗ và lá mít còn được dùng làm thuốc an thần, chữa huyết áp cao hay chữa những trường hợp co quắp: Mài gỗ mít lên miếng đá nháp hay chỗ nháp của trôn bát, có thêm ít nước. Nước sẽ vẩn đục do chất gỗ và nhựa mít. Uống thứ nước đục này. Ngày dùng từ 6 đến 10g gỗ mít mài như trên. Có người còn dùng lá mít chữa ỉa chảy, táo bón, ăn không tiêu.
Tùy nhu cầu sử dụng.
Không có thông tin lưu ý
Lá, quả, thân.
Stachytarpheta jamaicensis
Vị: đắng. Tính: mát. Quy kinh: can, tỳ, phế.
Còn gọi là Cỏ đuôi chuột, Cỏ roi ngựa xanh, thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae). Đây là loài cây mọc hoang phổ biến ở vùng nhiệt đới, trong đó có Việt Nam, và được dùng làm thuốc dân gian.
cây thảo sống lâu năm, mọc hoang hoặc trồng làm cảnh ở nhiều vùng Việt Nam. Cây được dân gian sử dụng chữa ho, cảm sốt, mụn nhọt, viêm họng, đau dạ dày và các bệnh ngoài da.
Thanh nhiệt, giải độc. Tiêu viêm, chỉ thống (giảm đau). Hạ sốt. Lợi tiểu, tiêu thũng.
Dùng trong: 15 – 30 g cây khô/ngày (sắc uống). Dùng ngoài: Lá giã nát, đắp trị sưng viêm, nhọt.
Vị thuốc có tính mát, không dùng cho người tỳ vị hư hàn, tiêu chảy. Dùng liều cao có thể gây hạ huyết áp, mệt mỏi.
Toàn cây (trừ rễ).
Basella alba
vị chua, tính hàn, trơn, không độc; có tác dụng hoạt trung, nhuận lợi đại tiểu trường
vitamin A₃, vitamin B₃, saponin, chất nhầy và chất sắt.
Rau mồng tơi có nguồn gốc từ các vùng nhiệt đới châu Á và châu Phi. Ở Việt Nam, cây mọc hoang và được trồng phổ biến cho leo hàng rào để lấy rau ăn; chủ yếu dùng làm thực phẩm, ít được sử dụng làm thuốc trong thực hành hiện đại.
Nhân dân Indonesia dùng rau mồng tơi chữa trẻ em bị táo bón và phụ nữ đẻ khó. Ép quả lấy nước nhỏ mắt chữa đau mắt. Rau mồng tơi giã đắp chữa vú sưng nứt, giải độc. Trong dân gian thường nấu canh ăn để “cho mát”, ít dùng làm thuốc.
Không có thông tin liều lượng
Không có thông tin lưu ý
Thân và lá.
Maclura cochinchinensis (Lour.) Corn
Vị: đắng, chát. Tính: mát. Quy kinh: can, tỳ.
Còn gọi là Dây gắm, Dây mỏ quạ, Dây gắm gai, thuộc họ Dâu tằm (Moraceae). Đây là loài dây leo có gai, mọc hoang nhiều ở rừng Việt Nam và được dùng làm thuốc.
cây leo thân gỗ, thường mọc hoang hoặc được trồng làm cảnh tại Việt Nam. Cây được dân gian sử dụng để chữa sưng viêm, đau nhức xương khớp, mụn nhọt, viêm gan và các bệnh ngoài da.
Quy cách:
Thanh nhiệt, giải độc. Trừ phong thấp, mạnh gân cốt. Hoạt huyết, tiêu viêm.
Dùng trong: 12 – 20 g rễ hoặc thân khô/ngày (sắc uống). Dùng ngoài: Rễ, thân giã nát đắp trị nhọt, sưng đau.
Vị thuốc có tính mát, không dùng cho người tỳ vị hư hàn, tiêu chảy mạn. Dùng đúng liều, tránh lạm dụng vì có nhiều tanin dễ gây táo bón.
Rễ, thân, vỏ cây.
Phyllanthus emblica Linn
Chữa cảm mạo, phát sốt, ho, đau cổ họng, miệng khô khát.
Quả chứa khoảng 45% tanin. Quả còn xanh chứa 30-35% tanin.
Cây mọc phổ biến trên các đổi trọc, các bãi hoang, trong các rừng thưa ở nước ta. Cây ưa ánh sáng, chịu được khô hạn. Còn thấy mọc ở nhiều nước vùng nhiệt đới châu Á như Trung Quốc (Quảng Đông, Quàng Tây, Vân Nam), An Độ. Làm thuốc người ta dùng quả, rể và lá. Trong công nghiệp người ta còn dùng vỏ thân, làm nguồn nguyên liệu chế tanin.
Rễ thu hái quanh năm, đào về rửa sạch đất cát, phơi hay sấy khô. Quả thu hái vào mùa thu, đồ hơi nước rổi phơi hay sấy khô.
Tại Ân Độ người ta coi quả me rừng như một nguồn vitamin c, dùng với tên “myrobalan emblic”. Tươi thì là một vị thuốc mát lợi tiểu, nhuận tràng, dùng dưới hình thức mứt (thêm đường mật), khô dùng chữa lỵ, ỉa chảy. Vỏ cây cũng được dùng làm thuốc chữa ỉa chảy nhưng chủ yếu làm nguồn chất chát dùng thuộc da và nhuộm.
Mỗi ngày dùng 10-30 quả sắc uống. Ngày dùng 15-20g rễ sắc uống.
Không có thông tin lưu ý
Quả, rễ, vỏ cây
Cleome viscosa L.
Vị: cay, hơi đắng. Tính: ấm.
Thuộc họ: Màn màn (Cleomaceae). Còn gọi là: Màn màn hoa vàng, Màn màn nhớt.
cây thảo mọc hoang ở nhiều vùng Việt Nam, thường dùng làm thuốc dân gian chữa ho, cảm sốt, đau bụng, mụn nhọt, viêm da và một số bệnh ngoài da.
Khử phong thấp, tiêu viêm. Chỉ thống, trừ giun. Trị rối loạn tiêu hóa.
Toàn cây khô: 12 – 20 g/ngày, sắc uống. Hạt: 3 – 6 g/ngày.
ó vị cay, ấm, dễ gây kích ứng → không dùng cho người âm hư, sốt cao, phụ nữ có thai.
Toàn cây, hạt.
Senna alata (L.) Roxb
Muồng trâu là một vị thuốc có dược tính đặc trưng. Hầu hết các bộ phận của cây đều có vị hơi đắng, mùi hắc và tính mát. Tuy nhiên, lá của cây lại có một sự khác biệt đáng chú ý, với vị cay và tính ấm.
Anthraquinones, flavonoids, saponin và tannin.
Muồng trâu là một loài cây thân nhỡ dạng gỗ mềm, có chiều cao phổ biến từ 1.5-3m. Thân cây thường có đường kính khoảng 10-18 cm. Một trong những đặc điểm thực vật học nổi bật nhất của cây Muồng trâu là lá kép lông chim với 8-14 đôi lá chét. Đặc biệt, kích thước và khoảng cách giữa các cặp lá chét có sự khác biệt rõ rệt: cặp lá chét đầu tiên (tính từ phía cuống) có kích thước nhỏ nhất và cách xa cặp lá chét thứ hai hơn so với khoảng cách giữa các cặp lá tiếp theo. Kích thước lá chét càng lên phía ngọn càng lớn dần, có thể đạt chiều rộng 5-6 cm và chiều dài 12-14 cm. Hoa của cây mọc thành cụm, tạo thành những chùm dài khoảng 30-40 cm tập trung ở ngọn. Mỗi chùm bao gồm nhiều bông hoa có màu vàng sẫm hoặc vàng nâu nhạt. Quả có hình dạng hạt đậu, rộng 15-17 mm và dài 8-16 cm, bên trong chứa khoảng 60 hạt nhỏ.
1. Trị hắc lào, lang ben, dị ứng, nấm da: - Bài thuốc 1: Dùng lá Muồng trâu tươi giã nát với một chút muối hoặc nước cốt chanh để tăng tính sát khuẩn. Đắp phần bã lá lên vùng da bị tổn thương trong khoảng 20-30 phút, thực hiện 2 lần mỗi ngày cho đến khi khỏi. - Bài thuốc 2: Sắc lá Muồng trâu thành nước thật đậm đặc để tắm, hoặc dùng nước này để ngâm, rửa vùng da bị bệnh mỗi ngày. - Bài thuốc 3: Ngâm 5-20g cuống lá và quả khô (không hạt) trong 1 lít nước sôi, sau đó uống 1 ly nhỏ vào buổi tối. 2. Trị vảy nến: Chuẩn bị 100g lá Muồng trâu tươi, rửa sạch và giã nhỏ với 1 thìa muối. Dùng bông y tế thấm nước cốt bôi hoặc dùng gạc đắp phần bã lên vùng da bị vảy nến trong khoảng 30 phút, thực hiện 2 lần/ngày. Lưu ý cần vệ sinh sạch sẽ vùng da trước khi bôi thuốc. 3. Trị táo bón - Bài thuốc 1: Dùng 20g lá Muồng trâu đun với 1 lít nước. Uống 1 ly trước khi đi ngủ để đạt hiệu quả nhuận tràng tốt nhất. - Bài thuốc 2: Kết hợp 20g lá Muồng trâu với 20g rễ Chút chít và 4-6g Đại hoàng. Sắc uống trong ngày. Sự kết hợp này giúp tăng cường tác dụng nhuận tràng và thanh nhiệt. 4. Chữa viêm họng: Dùng một lượng lá tươi vừa đủ, nghiền hoặc ép lấy nước cốt và pha loãng để súc miệng hằng ngày. Phương pháp này giúp giảm đau và ngứa rát cổ họng hiệu quả. 5. Trị thấp khớp: Dùng bài thuốc phối hợp: Muồng trâu 40g, Vòi voi 30g, Tang ký sinh 20g, Quế chi 20g, Dứa dại 20g, và Rễ cỏ xước 20g. Sắc các vị thuốc này với khoảng 1 lít nước, đun nhỏ lửa cho đến khi còn 500ml và uống hết trong ngày. Liệu trình kéo dài 7-10 ngày. 6. Trị đau thần kinh tọa: Muồng trâu 24g, Cây lức 20g, Thần thông 12g, Rễ nhàu 12g, Kiến cò 12g, và Đỗ trọng 8g. Sắc các vị thuốc này với 400ml nước cho đến khi còn đủ 1 bát và uống hết trong ngày.
- Liều nhuận tràng: Khoảng 4-12 g dược liệu khô mỗi ngày. Ở liều này, tác dụng kích thích nhu động ruột diễn ra nhẹ nhàng, phù hợp với việc điều trị các trường hợp táo bón thông thường. - Liều tẩy xổ: Liều cao hơn, từ 20-40 g mỗi ngày, được sử dụng để đạt tác dụng tẩy xổ mạnh. - Liều chung cho sắc uống: Một số tài liệu đề xuất liều dùng hằng ngày là 4-5g.
- Không nên sử dụng dược liệu này trong một thời gian dài. Việc dùng quá lâu có thể khiến cơ thể trở nên phụ thuộc vào dược liệu để duy trì nhu động ruột, dần dần làm mất khả năng tự điều chỉnh của hệ tiêu hóa. - Tác dụng nhuận tràng mạnh của Muồng trâu, nếu không được kiểm soát, có thể gây kích ứng và tổn thương niêm mạc ruột. Điều này có thể dẫn đến các tác dụng phụ nghiêm trọng như co thắt ruột, đau bụng, hoặc tiêu chảy kéo dài. - Một số đối tượng không nên hoặc cần đặc biệt thận trọng khi sử dụng: + Người có tỳ vị hư hàn: Theo Y học Cổ truyền, người có thể chất này (thường biểu hiện bằng tình trạng lạnh bụng, đi ngoài phân lỏng) không nên dùng Muồng trâu vì tính mát của nó có thể làm tình trạng bệnh nặng hơn, gây tiêu chảy. + Phụ nữ mang thai: Dược liệu này cần được sử dụng hết sức thận trọng cho phụ nữ mang thai và chỉ khi có sự hướng dẫn của chuyên gia y tế. + Người mắc bệnh đường ruột: Các nghiên cứu hiện đại cảnh báo rằng Muồng trâu không nên dùng cho người mắc các bệnh viêm ruột như hội chứng ruột kích thích (IBS) hoặc bệnh Crohn.
Lá, thân, cành, quả, rễ và thậm chí cả hoa.
Eryngium foetidum L
Vị: cay, hơi đắng. Tính: ấm. Quy kinh: tỳ, vị.
Còn gọi là Ngò gai, Mùi ngò, Culantro, thuộc họ Hoa tán (Apiaceae). Đây là loại rau thơm quen thuộc đồng thời cũng là cây thuốc dân gian có nhiều tác dụng.
Mùi tàu là cây thảo sống quanh năm, thường mọc hoang hoặc trồng làm gia vị và dược liệu ở nhiều vùng Việt Nam. Cây được dùng trong dân gian chữa cảm cúm, ho, đầy hơi, đau bụng, viêm da và các bệnh về hô hấp.
Hành khí, kiện vị, trợ tiêu hóa. Khu phong, tán hàn, chỉ thống (giảm đau bụng, đau nhức xương khớp). Thanh nhiệt, giải độc. Kích thích tiết mồ hôi, hỗ trợ giải cảm.
Dùng trong: 10 – 20 g lá tươi/ngày (sắc uống hoặc làm gia vị). Dùng ngoài: Lá giã đắp trị vết thương, mụn nhọt.
Không nên dùng quá nhiều ở người có cơ địa nhiệt (hay nóng trong). Phụ nữ có thai hạn chế dùng liều cao.
Toàn cây (lá, rễ).
Lawsonia inermis
Kháng sinh.
Lá chứa Lawsone, 7-8% tanin, 6% chất béo, 1,2% tinh dầu, 2-3 % chất nhựa, 2% chất màu có tinh thể hình kim màu vàng da cam.
Mọc hoang và được trồng ở Việt Nam. Hiện nay ít trồng hơn và ít dùng. Có mọc ở khắp các nước nhiệt đới và á nhiệt đới. Tại Ai Cập, người ta trồng để xuất cảng.
Cây lá móng tay ưa đất màu, ẩm nóng. Trồng bằng hạt. Trước khi gieo, ngâm hạt vào nước nóng 50-60° sau đó gieo thẳng vào vườn ươm. Sang năm thứ hai, thứ ba bắt đầu thu hoạch. Cắt cành phơi khô ngoài nắng có nơi phơi trong bóng râm. Mỗi năm có thể cắt hai lần. Khi hái để lại gốc cao 50cm để cho cây lại phát triển. Một cây trồng có thể thu hoạch trong vòng 10-12 năm. Nếu hái cẩn thận có thể thu hoạch trong 20-30 năm. Hàng năm Ai Cập xuất cảng tới 1.000 tấn, Iran có thể xuất cảng tới 1200 lá. Chủ yếu người ta dùng lá phơi khô, để nguyên hay tán bột. Các bộ phận khác như thân, rễ, hoa cũng được dùng nhưng ít hơn.
Dùng chữa hắc lào, bệnh da vàng, bệnh hủi, lở loét. Người ta cho rằng lá móng tay có tác dụng làm cho tóc và móng tay chóng mọc. Lá tươi giã nát trộn với dấm thanh dùng để chữa bệnh ngoài da. Tại châu Âu, người ta dùng lá móng tay để chế mỹ phẩm và làm thuốc nhuộm tóc. Tại một số nước, người ta dùng vỏ thân cây làm thuốc chữa bệnh gan, bệnh tuỷ sống lưng, chữa tê bại nhức mỏi. Có khi còn dùng chữa kinh nguyệt không đều, có thể gây sảy thai. Nhân dân Campuchia dùng để làm thuốc lợi niệu, chữa ho, viêm khí quản.
Tùy nhu cầu.
Không có thông tin lưu ý
Lá, thân, rễ, hoa.
Basella alba
nấu canh ăn cho mát.
vitamin A3, vitamin B3, chất saponin, chất nhầy và chất sắt.
Cây này có nguồn gốc ở các nước nhiệt đới của châu Á và châu Phi. Tại Việt Nam, cây này mọc hoang và được trồng cho leo hàng rào để lấy rau ăn.
ít làm thuốc.
tùy chọn.
Không có thông tin lưu ý
thân, lá.
Paederia lanuginosa Wall
Vị đắng, cay, mùi hôi, tính mát. Có tác dụng thanh nhiệt, sát trùng, giải độc, tiêu thũng, chữa kiết lỵ.
Hoa nhỏ màu hồng nhạt hoặc tím nhạt, mọc thành xim ở nách lá hoặc đầu cành. Quả hình cầu, khi chín có màu đen.
Mơ tam thể hay Mơ lông, tên khoa học Paederia foetida L., thuộc họ Cà phê (Rubiaceae). Cây dây leo lâu năm, thân mảnh, mềm, khi vò có mùi hôi đặc trưng. Lá mọc đối, hình trứng hay bầu dục, mặt dưới có nhiều lông mềm, thường có 3 gân rõ (nên gọi là tam thể).
Kiết lỵ: Lá mơ tươi 30g, rửa sạch, thái nhỏ, trộn với quả trứng gà, hấp cách thủy, ăn trong ngày. Giun kim: Ăn lá mơ tươi sống hoặc nấu canh liên tục 3–5 ngày. Đau bụng, rối loạn tiêu hóa: Lá mơ 20g sắc với gừng 3 lát, uống 2 lần trong ngày.
Ngày dùng 20–30g lá tươi, có thể giã vắt lấy nước uống hoặc nấu canh ăn.
Không có thông tin lưu ý
Lá
Eupatorium fortunei Turcz
Vị cay, đắng, tính ấm. Có tác dụng tán hàn, hóa thấp, kiện tỳ, chỉ nôn.
Lá mọc đối, thuôn dài, mép có răng cưa, mặt dưới nhạt hơn. Cụm hoa đầu màu trắng hoặc hồng nhạt, xếp thành chùm ở ngọn thân.
Eupatorium fortunei Turcz. thuộc họ Cúc (Asteraceae). Là cây thảo sống lâu năm, cao 40–80cm, thân vuông, phân cành ở ngọn, có mùi thơm đặc trưng. Cây mọc tự nhiên ở vùng núi, bìa rừng, ven suối và được trồng làm thuốc tại nhiều nơi.
Chán ăn, tiêu hóa kém do thấp: Eupatorium fortunei 8g, Hoắc hương 6g, Bạch truật 10g, sắc uống. Nôn mửa do hàn thấp: Kinh giới 6g, Sinh khương 3 lát, Eupatorium 8g, sắc uống. Tiêu chảy nhẹ: Dùng riêng Eupatorium 10g sắc uống hoặc phối hợp với Bạch truật.
Ngày dùng 6–12g khô, sắc uống.
Không có thông tin lưu ý
Toàn cây trên mặt đất (Herba Eupatorii).
Calophyllum inophyllum
Dầu mù u: Có tác dụng kháng khuẩn, giảm đau, chống viêm, làm liền sẹo. Nhựa: Sát trùng, trị ghẻ lở. Lá, vỏ: Thanh nhiệt, giải độc.
Cây ưa sáng
Mù u, còn gọi là Vối rừng, Cồng (Calophyllum inophyllum L.), thuộc họ Bứa (Clusiaceae), là cây gỗ thường xanh, cao 8–20m, tán rộng. Lá mọc đối, dày, bóng; hoa trắng, thơm, mọc thành chùm ở nách lá. Quả hình cầu, vỏ cứng, khi chín màu vàng nâu.
Trị bỏng, loét lâu lành: Dầu mù u bôi trực tiếp lên vết thương. Trị ghẻ lở: Nhựa mù u bôi ngoài da. Trị phong thấp, đau nhức xương khớp: Dầu mù u xoa bóp chỗ đau ngày 2–3 lần. Thanh nhiệt, giải độc: Lá mù u 12g, sắc uống.
Dầu mù u dùng bôi ngoài, không uống. Lá hoặc vỏ dùng 8–12g/ngày dưới dạng sắc.
Không có thông tin lưu ý
Hạt (dầu mù u), nhựa, vỏ và lá.
Luffa cylindrica
Vị ngọt, tính mát
Mướp (dây leo, quả dài, xanh, nhiều hạt)
Mướp (Luffa cylindrica) là cây dây leo thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae), thường trồng làm rau ăn quả. Ngoài giá trị dinh dưỡng, mướp còn là vị thuốc dân gian với tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi sữa, cầm ho, nhuận phế. Quả mướp, hạt, hoa và xơ mướp đều có thể dùng làm thuốc.
Ho, hen suyễn, viêm xoang, thông tia sữa, giải nhiệt
10–20g khô/ngày (tùy bài thuốc)
Không dùng cho người tỳ vị hư hàn, tiêu chảy.
Quả, hạt, xơ mướp, hoa
Elaeagnus latifolia L
Vị chua, tính bình, quy kinh Tỳ, Vị, Can; giúp thanh nhiệt, giải độc, hỗ trợ tiêu hóa, kháng viêm, giảm đau, kháng khuẩn, làm dịu họng.
Cây bụi hoặc gỗ nhỏ, cao 3-6m, có cành mềm, lá hình bầu dục hoặc mác, dài 5-12cm, mặt trên xanh đậm, mặt dưới nhạt, có lông tơ. Hoa màu trắng hoặc vàng nhạt, mọc thành chùm. Quả hình nang dài, khi chín có màu vàng hoặc cam, ăn được, vị chua ngọt.
Cây Nhót lớn (Elaeagnus latifolia) là một loài cây dược liệu phổ biến ở Việt Nam, được sử dụng trong các bài thuốc cổ truyền để điều trị viêm khớp, bệnh tiêu hóa, và viêm họng. Với khả năng kháng viêm, giải độc, và hỗ trợ tiêu hóa, cây Nhót là một thảo dược quý trong y học dân gian.
Táo bón: Quả Nhót tươi 10-15 quả, ăn trực tiếp hoặc chế biến thành nước ép, uống 1 lần/ngày. Viêm khớp: Lá Nhót 10-15g, sắc với ngải cứu và cỏ xước, uống ngày 2 lần trong 5-7 ngày. Viêm họng: Lá Nhót 10g, sắc với gừng tươi, uống ngày 2 lần. Hỗ trợ tiêu hóa: Quả Nhót tươi 10 quả, ăn ngày 1 lần để cải thiện hệ tiêu hóa.
Quả tươi: 10-15 quả/ngày (ăn trực tiếp hoặc nước ép). Lá: 10-15g/ngày (sắc nước uống). Vỏ cây, rễ: 5-10g/ngày (sắc uống).
Tránh dùng quá liều, có thể gây tác dụng phụ như dị ứng hoặc rối loạn tiêu hóa.
Quả tươi (chủ yếu), lá tươi (dùng sắc nước), đôi khi dùng vỏ cây và rễ trong các bài thuốc.
Artemisia vulgaris L
Vị đắng, cay, tính ấm; có tác dụng ôn kinh, tán hàn, điều hòa khí huyết, an thai, giảm đau.
Cây ưa sáng, dễ trồng ở nơi đất tơi xốp. Thường mọc hoang và được trồng ở khắp các vùng nông thôn Việt Nam để làm thuốc hoặc dùng cứu ngải.
Ngải cứu, còn gọi là Ngải diệp, Thuốc cứu, Cỏ linh li (Artemisia vulgaris L.), thuộc họ Cúc (Asteraceae), là cây thảo sống lâu năm, cao 0,5–1,5m. Thân có rãnh dọc, lá mọc so le, mặt trên xanh sẫm, mặt dưới trắng như có lông tơ. Hoa nhỏ, màu vàng nhạt, mọc thành chùm kép.
Điều hòa kinh nguyệt, giảm đau bụng kinh: Ngải cứu 10g, ích mẫu 12g, hương phụ 8g, sắc uống trước kỳ kinh vài ngày. Cầm máu: Ngải cứu sao đen 12g, sắc uống. An thai khi động thai ra huyết: Ngải cứu 12g, củ gai 20g, sắc uống. Chữa cảm lạnh, đau đầu: Ngải cứu 12g, gừng tươi 6g, sắc uống nóng.
Dùng 6–12g/ngày dưới dạng thuốc sắc. Có thể sao cháy tồn tính để cầm máu.
Không có thông tin lưu ý
Phần trên mặt đất – lá và cành non (Herba Artemisiae vulgaris).
Curcuma caesia
Vị đắng cay, tính ấm; có tác dụng hành khí, phá huyết, tiêu tích, chỉ thống.
Cây ưa sáng, thích đất tơi xốp, thoát nước. Thường được trồng ở các tỉnh trung du, miền núi.
Nghệ đen, còn gọi Nga truật (Curcuma zedoaria (Christm.) Roscoe), thuộc họ Gừng (Zingiberaceae), là cây thảo sống lâu năm, cao 1–1,5m, thân rễ mọc ngang, vỏ ngoài nâu xám, ruột màu tím đậm hoặc tím đen đặc trưng. Nghệ đen thường mọc hoang hoặc được trồng để làm thuốc.
Chữa đau bụng kinh, huyết ứ: Nga truật 6g, hương phụ 8g, ích mẫu 12g, sắc uống. Chữa đầy bụng, khó tiêu: Nga truật 6g, mộc hương 4g, chỉ xác 4g, sắc uống. Chữa đau do ứ huyết sau sinh: Nga truật 6g, nghệ vàng 6g, hồng hoa 4g, sắc uống.
Dùng 3–9g/ngày dưới dạng thuốc sắc hoặc bột.
Không có thông tin lưu ý
Thân rễ (Rhizoma Curcumae zedoariae).
Schefflera heptaphylla (L.) Frodin
Vị đắng, cay, tính ấm; có tác dụng khu phong, trừ thấp, mạnh gân cốt, giảm đau.
Cây ưa sáng, mọc nhiều ở rừng thứ sinh, ven đường, bờ rào. Có thể trồng bằng cành hoặc hạt.
Ngũ gia bì chân chim (Schefflera heptaphylla (L.) Frodin), thuộc họ Nhân sâm (Araliaceae), là cây gỗ nhỏ hay bụi cao 2–8m, lá kép chân vịt có 5–7 lá chét, mép nguyên. Cây mọc hoang hoặc trồng làm cảnh, cũng là vị thuốc trong y học cổ truyền.
Chữa đau nhức xương khớp, thấp khớp: Ngũ gia bì 12g, thổ phục linh 12g, độc hoạt 8g, sắc uống ngày 1 thang. Bồi bổ cơ thể, suy nhược: Ngũ gia bì 8g phối hợp nhân sâm, hoàng kỳ, sắc uống.
Dùng 6–12g dạng thuốc sắc, có thể phối hợp với các vị thuốc khác.
Không có thông tin lưu ý
Vỏ thân, vỏ rễ.
Morinda citrifolia L.
Cây nhàu có vị nhặng đắng, cay, tính ấm và quy vào kinh Thận, Đại tràng.
Không có thông tin thành phần hoá học
Cây nhàu là một loại cây thân gỗ nhỏ, có chiều cao trung bình từ 4-8 m. Thân cây nhẵn, phân thành nhiều cành lớn. Cành non thường có tiết diện vuông và màu xanh, trong khi cành già hơn có tiết diện tròn, màu nâu xám và đôi khi vỏ bị bong tróc. Lá nhàu mọc đối xứng nhau, phiến lá to, hình bầu dục với hai đầu thuôn nhọn, kích thước trung bình dài từ 12-30 cm và rộng từ 6-15 cm. Mặt trên của lá có màu xanh đậm và bóng, trong khi mặt dưới có màu nhạt hơn và gân lá hình lông chim nổi rõ. Hoa nhàu mọc thành từng cụm hình đầu, có màu trắng và hoa lưỡng tính. Cây nhàu có khả năng ra hoa và kết quả quanh năm. Quả nhàu là dạng quả hạch kép, khi còn non có màu xanh lục và bề mặt xù xì, nhưng khi chín sẽ chuyển sang màu vàng hoặc trắng hồng, mềm, có mùi nồng đặc trưng. Bên trong quả là phần thịt mềm, màu trắng ngà, chứa nhiều hạt nhỏ màu nâu đen, hình bầu dục. Hệ thống rễ của cây nhàu là rễ cọc, ăn sâu vào lòng đất.
Các bộ phận như lá, vỏ và rễ có thể được thu hái quanh năm. Rễ thường được thu hoạch vào mùa đông, sau đó được bào thành từng miếng mỏng, phơi hoặc sấy khô để bảo quản và dùng dần. Quả nhàu được thu hái theo mùa, khi quả đã già hoặc sắp chín. Các bộ phận này có thể dùng tươi hoặc được phơi sấy khô để bảo quản ở nơi khô ráo, thoáng mát.
Không có thông tin bài thuốc
- Lá tươi: Dùng từ 8-20g mỗi ngày. - Rễ khô: Liều tham khảo là 20-30g mỗi ngày , tuy nhiên, một số bài thuốc có thể sử dụng liều cao hơn từ 30-40g. - Rượu ngâm: Liều dùng thông thường là 20-30ml mỗi ngày. - Nước ép/Nước cốt: Liều dùng tham khảo là 30ml mỗi ngày cho người khỏe mạnh. Đối với người bị chấn thương hoặc bệnh nặng, liều có thể tăng lên 90-240ml/ngày hoặc thậm chí 480-600ml/ngày.
- Một số nhóm đối tượng tuyệt đối không nên sử dụng cây nhàu, bao gồm: phụ nữ đang mang thai và cho con bú, người có tiền sử huyết áp thấp, bệnh nhân suy thận hoặc suy gan. - Ngoài ra, việc sử dụng không đúng cách có thể gây ra một số tác dụng phụ (rối loạn tiêu hóa, dị ứng) và tương tác với các loại thuốc tân dược (thuốc hạ huyết áp, thuốc chống đông máu, thuốc lợi tiểu, thuốc trị bệnh thận).
Lá, vỏ thân, rễ và quả.
Jasminum sambac
Theo sách cổ ghi rễ có tác dụng gây mê
Hoa chứa khoảng 0,08% chất béo thơm gồm parafin, các este formic, acetic, benzoic-linalyl, este methyl anthranilat và indol
Cây được trồng khắp Việt Nam, chủ yếu để lấy hoa ướp chè hoặc làm thơm thức ăn; ít được dùng làm thuốc.
Hoa sắc rửa mắt hoặc sắc uống chữa lỵ; lá giã lấy nước trộn lòng trắng trứng đắp mắt; các cách dùng này được ghi nhận dân gian
Hoa khô dùng 2–4 g/ngày khi sắc uống
Tác dụng gây mê của rễ chỉ ghi trong sách cổ và tài liệu cũ, cần thận trọng và kiểm tra lại
Hoa, lá và rễ
Morinda citrifolia
Không có thông tin dược tính
Vỏ rễ chứa glucozit anthraquinon morindin và nhiều anthraglucozit khác
Cây nhàu thường mọc hoang ở nơi ẩm thấp dọc bờ sông, bờ suối; thấy nhiều ở miền Nam nước ta và một số tỉnh miền Trung, có thể trồng dễ dàng ở miền Bắc.
Rễ nhàu chữa cao huyết áp; quả nhàu ăn với muối nhuận tràng, điều kinh, trị băng huyết, bạch đới, ho, cảm hen; rễ hoặc quả non sao ngâm rượu chữa nhức mỏi; lá giã đắp mụn nhọt, sắc uống chữa lỵ, sốt, nhức đầu.
Rễ nhàu: 30–40g/ngày, sắc uống thay nước chè; lá nhàu 8–10g sắc với 500ml nước chia 2 lần uống.
Không có thông tin lưu ý
Lá, quả, vỏ, rễ; rễ hay dùng nhất dưới dạng phơi hay sấy khô, các bộ phận khác dùng tươi.
Crinum latifolium L
Chứa latisolin và latisodin. các dẫn chất có tác dụng chống ung thư, điển hình là crinafolin và crinafolidin. các alcaloid trong thân cây khi ra hoa như pratorimin, pratosin, pratorinmin, ambelin và lycorin. hai alcaloid mới từ cánh hoa là 2-epilycorin và 2-epipancrassidin.
Cây Trinh nữ hoàng cung.
Trinh nữ hoàng cung là cây thảo sống lâu năm, thân hành củ, mọc ở nhiều vùng Việt Nam. Cây được dân gian dùng để điều trị u bướu, mụn nhọt, viêm nhiễm, đồng thời hỗ trợ các bệnh về gan, thận và phụ khoa.
Dùng chữa bướu xơ tử cung, u nang buồng trứng.
Phác đồ 1: Ngày đầu dùng 3 lá tươi, những ngày sau dùng 1-2 lá. Sau 7 ngày uống thì nghỉ 7 ngày. Tiếp tục lặp lại 3 chu kỳ. Phác đồ 2: Dùng liên tục 63 ngày (không nghỉ). Phác đồ 3: Dùng liên tục 49 ngày (không nghỉ).
Dược liệu có thể gây ngộ độc, buồn nôn nếu không có sự hướng dẫn của y học cổ truyền và liều lượng phù hợp. Không nên dùng nước sắc trinh nữ hoàng cung với liều cao.
Lá tươi
Crinum asiaticum L
Tính vị: vị cay, tính ấm, hơi có độc. Quy kinh: can, tỳ.
cây Đại Tướng Quân
Náng hoa đỏ (Crinum asiaticum var. procerum), thuộc họ Thủy tiên (Amaryllidaceae), là cây thân thảo lâu năm, cao 0,8–1,2m, mọc thành bụi. Lá dài, hẹp, xếp xoắn ốc. Hoa đỏ, mọc thành tán ở đầu cán hoa. Cây được trồng làm cảnh và làm thuốc.
Tiêu viêm, giảm đau. Tán huyết, tan u bướu. Giảm sưng, trị nhọt, mụn độc, rắn cắn. Một số nơi dùng hỗ trợ trị phì đại tuyến tiền liệt, u xơ, đau khớp.
Dùng ngoài (chính): Lá tươi hơ nóng, đắp chỗ đau nhức, sưng viêm. Giã nát đắp lên vết thương, nhọt độc, u bướu. Dùng trong: rất hạn chế vì có độc → một số tài liệu ghi 2–4 g hành củ khô/ngày, nhưng không khuyến cáo tự dùng tại nhà.
Không có thông tin lưu ý
lá, củ (thân hành)
Dimocarpus longan
Long nhãn vị ngọt, tính ôn, bổ tâm tỳ, dưỡng huyết an thần.
Cây gỗ nhỏ
Nhãn (Dimocarpus longan Lour.), thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae), là cây ăn quả nhiệt đới quen thuộc ở Việt Nam. Quả nhãn có cùi trắng, vị ngọt, được dùng ăn tươi, sấy khô làm long nhãn và làm thuốc.
Mất ngủ, suy nhược: Long nhãn 12g, táo tàu 10 quả, hạt sen 10g, sắc uống. Thiếu máu, xanh xao: Long nhãn 12g, kỷ tử 10g, thục địa 12g, sắc uống ngày 1 thang. Suy nhược sau sinh: Long nhãn 10g, nhân sâm 6g, đường phèn, nấu chè ăn.
6–15g long nhãn khô/ngày, sắc uống hoặc nấu chè. Ăn quả tươi tuỳ khẩu vị, nhưng không nên ăn quá nhiều gây nóng trong.
Không có thông tin lưu ý
Cùi quả phơi khô (long nhãn). Ngoài ra hạt, lá, vỏ cây cũng được dùng trong một số bài thuốc dân gian.
Crinum asiaticum L. ( Crinum toxicarium Roxb. )
Tính đắng, mát, có tác dụng giảm đau, tiêu sưng, thông huyết, long đờm, chống viêm và có khả năng kháng khuẩn.
Cây náng hoa trắng (còn gọi là náng, văn thù lan, chuối nước,...) là loài cỏ, thuộc họ Thủy tiên (Amaryllidaceae), mọc hoang ở nơi ẩm ướt hoặc được trồng làm cảnh.
Náng hoa trắng (Crinum asiaticum L.) thuộc họ Thủy tiên (Amaryllidaceae), là cây thân thảo, sống lâu năm, được trồng làm cảnh và làm thuốc. Cây có lá to dài, hoa màu trắng, thơm nhẹ, mọc thành tán rất đẹp.
Lá náng dùng đắp và xoa bóp những nơi sưng đau, bong gân, bầm tím, thấp khớp, đau nhức. Củ giã nát lấy nước uống trị ho, cảm, viêm họng, hoặc nhỏ tai chữa đau tai. Ở Ấn Độ còn dùng nước ép củ để điều trị rắn cắn, trĩ, hoặc giải độc.
Dùng ngoài: lá tươi giã đắp hoặc xoa bóp. Dùng trong: củ tươi giã lấy nước, dùng liều 8–16g, có thể thêm đường cho dễ uống. (Lưu ý: Cần thận trọng khi dùng đường uống do có thể gây ngộ độc ở liều cao).
Không có thông tin lưu ý
Lá và củ (dùng tươi)
Oroxylum indicum (L.) Kurz
Vị đắng, tính mát, quy kinh can và đởm. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, chỉ thống.
Thu hái vỏ thân hoặc vỏ rễ quanh năm, tốt nhất vào mùa khô. Rửa sạch, thái miếng, phơi hay sấy khô.
Núc nác (Oroxylum indicum (L.) Kurz), thuộc họ Chùm ớt (Bignoniaceae), là cây gỗ nhỏ cao 5–10 m. Lá kép to, hoa màu tím nhạt, quả dài dẹt cong như lưỡi liềm. Cây phân bố ở vùng đồi núi nước ta, thường mọc hoang hoặc được trồng để lấy vỏ làm thuốc.
Mẩn ngứa, dị ứng: Vỏ núc nác 10g, cam thảo 6g, sắc uống ngày 1 thang. Vàng da, viêm gan: Núc nác 10g, nhân trần 15g, diệp hạ châu 12g, sắc uống. Tiêu chảy, kiết lỵ: Núc nác 8g, hoàng liên 4g, sắc uống.
6–12g/ngày dưới dạng thuốc sắc. Có thể nấu nước tắm ngoài để chữa ngứa.
Không có thông tin lưu ý
Vỏ thân, vỏ rễ (gọi là Hoàng bá nam).
Adenosma caeruleum R. Br
Y học cổ truyền: Vị đắng, cay, tính mát. Tác dụng thanh nhiệt, lợi mật, lợi tiểu, giải độc. Nghiên cứu hiện đại: Chứa tinh dầu, flavonoid, coumarin, có tác dụng lợi mật, tăng bài tiết dịch mật, bảo vệ gan, kháng khuẩn, chống viêm.
Nhân trần thuộc họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae). Thường thu hái toàn cây vào mùa hè, khi cây đang ra hoa, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô.
Nhân trần là cây thảo sống hằng năm, mọc hoang hoặc được trồng nhiều ở Việt Nam, nhất là miền Bắc và miền Trung. Cây có mùi thơm đặc trưng, thường được dùng nấu nước uống giải nhiệt và làm thuốc lợi mật.
Nước giải nhiệt: Nhân trần 20g, hãm nước sôi, uống thay trà trong ngày. Vàng da, viêm gan: Nhân trần 20g, actiso 10g, sắc uống. Mụn nhọt, nóng gan: Nhân trần kết hợp cam thảo, hạ khô thảo, sắc uống.
Dùng 10–20g khô/ngày, hãm hoặc sắc uống. Không dùng quá liều, đặc biệt với phụ nữ mang thai hoặc người huyết áp thấp.
Không có thông tin lưu ý
Toàn cây trên mặt đất (trừ rễ).
Curcuma longa L
Theo y học cổ truyền: Nghệ có vị đắng, cay, tính ấm, tác dụng hành khí, phá huyết, thông kinh, tiêu viêm, lợi mật. Theo nghiên cứu hiện đại: Curcumin trong nghệ có tác dụng chống viêm, chống oxy hóa, hỗ trợ tiêu hóa, bảo vệ gan, phòng ngừa ung thư.
Nghệ được dùng làm thuốc từ lâu đời trong y học cổ truyền. Thành phần chính là curcumin – hoạt chất có tính kháng viêm, chống oxy hóa mạnh.
Nghệ vàng (Curcuma longa L.), thuộc họ Gừng (Zingiberaceae), là cây thân thảo sống lâu năm, thân rễ màu vàng cam, mùi thơm đặc trưng. Nghệ được trồng phổ biến để làm gia vị, chế biến mỹ phẩm và làm thuốc.
Đau dạ dày, viêm loét dạ dày: Bột nghệ trộn mật ong, vo viên, uống trước bữa ăn. Phụ nữ sau sinh: Dùng nghệ nấu ăn hoặc uống để nhanh hồi phục, làm đẹp da. Vết thương ngoài da: Nghệ giã nát bôi ngoài giúp nhanh liền sẹo, chống nhiễm trùng.
Bột nghệ: 2–5g/ngày (uống với mật ong hoặc nước ấm). Tinh bột nghệ (curcumin tinh khiết): 500–2000mg/ngày theo khuyến nghị bác sĩ.
Không có thông tin lưu ý
Thân rễ (củ nghệ) – dùng tươi, phơi khô, tán bột hoặc chiết lấy curcumin.
Sanseviera Cylindrica Bojer
Theo y học cổ truyền, lá cây có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, cầm máu nhẹ. Nghiên cứu hiện đại cho thấy cây có khả năng hấp thụ khí độc như formaldehyde, benzene, giúp cải thiện chất lượng không khí.
Sansevieria cylindrica là cây thân thảo, sống lâu năm, chịu hạn tốt, thích hợp trồng chậu hoặc trong văn phòng.
Sansevieria cylindrica, còn gọi là lưỡi hổ trụ, lưỡi hổ tròn, là một loài cây cảnh trong họ Măng tây (Asparagaceae). Cây được ưa chuộng để trang trí nội thất vì dáng đẹp, dễ chăm sóc và có khả năng lọc không khí tốt.
Giải độc, mát gan: Nước ép lá (ít, không quá 30ml) uống. Vết côn trùng cắn, sưng tấy: Lá giã nát, đắp trực tiếp lên vết sưng. Thanh lọc không khí: Đặt 1–2 chậu trong phòng ngủ hoặc phòng làm việc.
Chưa có liều lượng chuẩn trong dược điển. Thường dùng lá tươi giã đắp ngoài da.
Không có thông tin lưu ý
Lá là bộ phận thường được nghiên cứu và sử dụng trong y học dân gian.
Schisandraceae
Vị chua, ngọt, tính ấm. Quy kinh phế, thận, tâm. Có tác dụng bổ thận, liễm phế, sinh tân dịch, an thần.
Dây leo thân gỗ, dài 5–8m. Lá mọc so le, phiến lá bầu dục. Hoa nhỏ màu trắng hồng, đơn tính. Quả mọng, đỏ tươi, mọc thành chùm dài.
Ngũ vị tử (Schisandra chinensis (Turcz.) Baill.), thuộc họ Ngũ vị tử (Schisandraceae), là dược liệu quý trong Đông y, tên gọi xuất phát từ vị của quả có đủ năm vị: chua, cay, mặn, ngọt, đắng.
Ho mạn, hen phế quản: Ngũ vị tử 4g, mạch môn 8g, cam thảo 2g, sắc uống. Mất ngủ, hồi hộp: Ngũ vị tử 4g, toan táo nhân 8g, viễn chí 6g, sắc uống. Ra mồ hôi nhiều: Ngũ vị tử 6g, hoàng kỳ 12g, sắc uống.
Dùng 3–6g dưới dạng thuốc sắc, hoặc tán bột uống.
Không có thông tin lưu ý
Quả chín phơi khô (Fructus Schisandrae).
Psidium guajava L
Vị chát, tính ấm. Tác dụng thu sáp, chỉ tả, sát trùng, tiêu viêm.
Cây nhỏ cao 2–6m, lá mọc đối, có lông mịn, hoa trắng, quả hình cầu hoặc hình lê, thịt trắng/vàng, mùi thơm.
Ổi (Psidium guajava L.), thuộc họ Sim (Myrtaceae), là cây ăn quả quen thuộc, đồng thời là vị thuốc dân gian trị tiêu chảy, lỵ và sát trùng.
Tiêu chảy, lỵ: Lá ổi non 20g, gừng nướng 4g, sắc uống. Hôi miệng, viêm lợi: Lá ổi đun đặc, dùng súc miệng hằng ngày. Vết thương mưng mủ: Lá ổi giã nát, đắp ngoài.
Sắc uống: 10–20g lá khô/ngày. Dùng ngoài: Nước lá ổi đun đặc để rửa vết thương, súc miệng.
Không có thông tin lưu ý
Lá non, búp ổi, quả chín.
Aconitum fortunei Hemsl
Vị: cay, đắng. Tính: rất nóng, có độc. Quy kinh: tâm, thận, tỳ.
Cây ô dầu, họ: Hoàng
Ô đầu là cây thảo sống lâu năm, mọc ở các vùng núi, sườn đồi ẩm. Trong dân gian, ô đầu được dùng làm thuốc giảm đau, trấn tĩnh, chữa phong thấp, đau nhức xương khớp, liệt và một số bệnh về thần kinh.
Hồi dương cứu nghịch (chữa chân tay lạnh, mạch yếu, choáng do suy tuần hoàn). Bổ hỏa trợ dương, ôn kinh chỉ thống. Trị đau nhức xương khớp, hàn tý, liệt dương, di tinh, suy nhược.
Phụ tử chế: 3 – 15 g/ngày (sắc lâu, bỏ bọt độc). Thường phối hợp trong các bài thuốc Tứ nghịch thang, Hắc phụ tử thang.
Ô đầu sống (chưa chế biến) cực độc, không dùng trực tiếp
Rễ củ (gọi là Ô đầu). Sau khi chế biến thành Phụ tử, Hắc phụ, Bạch phụ sẽ giảm độc và dùng làm thuốc.
Psidium guajava
Lá mọc đối có cuống ngắn, hình bầu dục, nhẫn hoặc hơi có lông ở mặt trên, mặt dưới có lông mịn, phiến nguyên, khi soi lên có thấy túi tinh dầu trong. Hoa màu trắng, mọc đơn độc ở kẽ lá. Quả là một quả mọng có vỏ quả giữa dày, hình dáng thay đổi tùy theo loài; ở đầu quả có sẹo của đài tồn tại. Rất nhiều hạt, hình thận, không đều, màu hơi hung.
Pectin, vitamin C. Lá và búp non chứa 7-10% loại tanin pyrogalic, axit psiditanic, 3% nhựa. Trong hạt có 14% chất dầu đặc sánh, 15% protein, 13% tinh bột.
Cây ổi nguồn gốc miền nhiệt đới châu Mỹ, sau được phổ biến và trồng ở khắp miền nhiệt đới châu Á, châu Phi. Đặc biệt ở nước ta, cây ổi mọc hoang tại nhiều vùng núi miền Bắc, nhưng phần nhiều người ta trồng để lấy quả ăn. Ngoài ra, ổi còn cung cấp các bộ phận sau đây dùng làm thuốc: Búp non, lá non, quả, vỏ rễ và vải thân, nhưng hay dùng nhất là búp non và lá non. Dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô.
Quả ổi còn xanh thì chất có tính gây táo bón và có thể dùng chữa đi ỉa lỏng, khi chín, quả ổi hơi có tác dụng nhuận. Người ta ăn ổi chín hoặc chế thành mút đóng hộp. Lá non và búp ổi non là một vị thuốc chữa đại bụng đi ngoài kinh nghiệm lâu đời trong nhân dân Thường dùng dưới dạng thuốc sắc hay thuốc pha Ngày dùng 15-20g búp non hay lá non, dùng riêng hay phối hợp với các vị khác như chè, gừng vv... Vỏ rễ và vỏ thân cũng được dùng để chữa đi ngoài và rửa vết thương, vết loét. Uống trong người ta dùng với liều 15g sắc với 200ml nước, nấu tại còn chừng 100m.
15-20g búp non hay lá non. Vỏ rễ hoặc vỏ thân 15g sắc với 200ml.
Không có thông tin lưu ý
Quả, lá, vỏ rễ, vỏ thân.
Capsicum annuum
Xót da và niêm mạc.
Capsicain, vitamin C.
Được trồng ở khắp nơi tại Việt Nam. Có những cây mọc hoang, nhưng có lẽ đó cũng là do gần đấy có nước trồng sau bỏ đi nơi khác, còn sót giống lại. Tuy nhiên việc trồng ớt ở nước ta chưa phát triển lắm. Tại nhiều nước như Nhật Bản, Indonesia, Ấn Độ, nhất là Hungary người ta trồng hằng nghìn hecta, mỗi năm xuất cảng từ 2500 đến 3000 tấn ớt khô. Chủ yếu hái quả dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô. Lá thường dùng tươi.
Chữa rắn rết cắn. Giã nhỏ lá ớt, đắp vào nơi bị thương. Hết đau nhức thì bỏ đi. Ngày làm một đến hai lần cho đến khi hết đau. Thường 15-30 phút hết đau, 2-3 giờ là khỏi hẳn.
0,05g
Không có thông tin lưu ý
Quả, lá.
Phyllanthus reticulatus Poir
Vị: chát. Tính: mát.
Cây phèn
Phèn đen (Phyllanthus reticulatus Poir.), thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), là cây thuốc dân gian quen thuộc, thường mọc hoang ở bờ rào, ven ruộng. Được dùng nhiều trong điều trị tiêu chảy, lỵ, băng huyết.
Lá: chữa tiêu chảy, kiết lỵ, viêm ruột, viêm họng. Rễ: trị đau bụng, sốt rét, phong thấp. Vỏ, thân: cầm máu, sát trùng vết thương. Quả chín: ăn được, có vị ngọt chua, đôi khi dùng nhuộm.
10–20 g lá khô/ngày, sắc uống.
Không có thông tin lưu ý
lá, thân, rễ, quả
Cassia angustifolia Vahl hoặc Cassia acutifolia Delile
Vị đắng, ngọt, tính hàn. Có tác dụng tả hạ, nhuận tràng, thông tiện, thanh nhiệt. Hoạt chất chính là glycosid anthraquinon (sennosid A, B).
Cây bụi cao 0,5–1m, lá kép lông chim chẵn, mỗi lá có 4–8 đôi lá chét hẹp, hoa vàng mọc chùm, quả đậu dẹt.
Phan tả diệp là lá khô của cây muồng trâu (Cassia angustifolia Vahl hoặc Cassia acutifolia Delile), thuộc họ Đậu (Fabaceae). Là vị thuốc nhuận tràng mạnh, được dùng rộng rãi trong Đông y và Tây y.
Táo bón: Phan tả diệp 4g, hãm với 150ml nước sôi, uống buổi tối. Sốt cao, táo bón: Phan tả diệp 6g, hãm cùng hoa cúc 5g, uống mát. Phù thũng nhẹ, thấp nhiệt: Phan tả diệp 4g, hoạt thạch 10g, mã đề 8g, sắc uống.
Dạng sắc: 4–8g/lần, ngày 1 lần (uống buổi tối). Dạng hãm trà: 1–2g, hãm nước sôi uống trước khi ngủ.
Không dùng liều cao hoặc kéo dài vì có thể gây đau bụng, tiêu chảy, nhờn thuốc.
Lá khô (phan tả diệp).
Citrus reticulata Blanco
Vỏ quýt vị cay đắng, tính ấm, có tác dụng lý khí, kiện tỳ, tiêu đờm. Hạt quýt hành khí, giảm đau; lá quýt an thai, giảm ho.
Cây gỗ nhỏ, lá mọc đơn, có cánh nhỏ ở cuống, hoa nhỏ trắng, quả chứa múi mọng nước.
Quýt (Citrus reticulata Blanco), thuộc họ Cam (Rutaceae), là cây ăn quả quen thuộc, cao 2–5m, lá xanh, hoa trắng thơm, quả hình cầu dẹt, vỏ mỏng màu vàng cam. Vừa là cây ăn quả vừa là cây thuốc quý.
Ăn không tiêu, đầy bụng: Vỏ quýt 5g, gừng khô 3g, sắc uống. Ho có đờm: Vỏ quýt 6g, cam thảo 3g, sắc uống. Tắc tia sữa: Hạt quýt 10g, giã nhỏ, sắc uống. Cảm lạnh: Lá quýt tươi 20g, sắc uống nóng.
Ngày dùng 3–6g vỏ quýt khô (sắc uống hoặc hãm trà).
Không có thông tin lưu ý
Vỏ quả chín (trần bì), vỏ quả xanh (thanh bì), hạt quýt, lá quýt non.
Cinnamomum cassia Presl
Vị cay, ngọt, tính đại nhiệt. Có tác dụng ôn trung, trừ hàn, hoạt huyết, giảm đau, kích thích tiêu hóa, kháng khuẩn.
Cây gỗ thường xanh, lá mọc đối, dày, hình bầu dục, mặt dưới có 3 gân dọc nổi rõ. Hoa nhỏ, vàng nhạt, quả hình cầu.
Quế (Cinnamomum cassia (L.) J. Presl), thuộc họ Long não (Lauraceae), là cây gỗ cao 10–15m, vỏ thân có mùi thơm đặc trưng. Được trồng nhiều ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Yên Bái, Quảng Ninh. Quế là dược liệu quý và gia vị nổi tiếng.
Đau bụng lạnh, tiêu chảy: Quế chi 4g, sinh khương 3g, cam thảo 2g, sắc uống. Huyết áp thấp, tay chân lạnh: Quế 3g hãm nước sôi uống. Đau nhức khớp, tê lạnh: Quế 5g, gừng khô 5g, sắc với 500ml nước còn 200ml, chia 2 lần uống. Kích thích tiêu hóa, ăn kém: Bột quế 1–2g pha mật ong uống.
Ngày dùng 2–5g vỏ quế khô dạng thuốc sắc, hoặc 0,05–0,2ml tinh dầu quế.
Không có thông tin lưu ý
Vỏ thân, vỏ cành, tinh dầu quế.
Glinus oppositifolius
Vị đắng, tính mát, quy kinh Tỳ, Vị, Can; thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, kích thích tiêu hóa, kháng khuẩn, chữa sốt, viêm họng, viêm gan.
Mọc hoang ở ruộng, bãi đất ẩm, ven sông, kênh rạch khắp Việt Nam
Rau đắng đất là dược liệu phổ biến trong y học cổ truyền Việt Nam, được dùng để thanh nhiệt, giải độc, chữa sốt, viêm họng, viêm gan và hỗ trợ tiêu hóa. Cây chứa alkaloid (quassinoide), flavonoid, giúp kháng viêm, kháng khuẩn, kích thích tiêu hóa. Được ghi nhận trong Dược điển Việt Nam, thường dùng dưới dạng trà, sắc uống hoặc ăn sống.
Sốt, viêm họng: Rau đắng đất 15g, sài đất 10g; sắc uống ngày 1 thang, dùng 3-5 ngày. Viêm gan, vàng da: Rau đắng đất 12g, nhân trần 12g, cỏ mực 10g; sắc uống, dùng 7-10 ngày. Kích thích tiêu hóa: Rau đắng đất tươi 10-15g, rửa sạch, ăn sống hoặc nấu canh, ngày 1 lần. iểu buốt, lợi tiểu: Rau đắng đất 15g, kim tiền thảo 10g; sắc uống, dùng 5-7 ngày.
10-20g/ngày (sắc uống, hãm trà hoặc ăn sống); dùng ngoài: giã đắp. Phụ nữ mang thai, người tỳ vị hư hàn dùng thận trọng.
ránh dùng quá liều (gây tiêu chảy, lạnh bụng). Người huyết áp thấp hoặc dị ứng cần thử trước.
Toàn cây (lá, thân, rễ), dùng tươi hoặc khô.
Amaranthus tricolor L.
Vị ngọt, tính mát, quy kinh Tỳ, Vị, Đại trường; thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, bổ máu, kháng viêm, chữa viêm họng, mụn nhọt, táo bón.
Cây thảo sống hàng năm, cao 0.5-1.5m, thân mọng nước, màu xanh hoặc đỏ tía, nhẵn. Lá hình trứng hoặc mác, dài 5-15cm, màu xanh hoặc đỏ, mép nguyên. Hoa nhỏ màu xanh hoặc tím, mọc thành bông ở ngọn hoặc nách lá. Toàn cây (thân, lá, rễ) thu hái quanh năm, dùng tươi hoặc phơi khô.
Giới thiệu sơ bộ: Rau dền (thường là dền đỏ) là dược liệu và rau ăn quen thuộc trong dân gian Việt Nam, được dùng để thanh nhiệt, giải độc, bổ máu, chữa viêm họng, mụn nhọt và táo bón. Cây chứa betacyanin, vitamin C, sắt, giúp kháng viêm, lợi tiểu, tăng cường tuần hoàn máu. Được ghi nhận trong sách cổ của GS. Đỗ Tất Lợi, thường dùng dưới dạng nấu canh, sắc uống hoặc giã đắp.
Thanh nhiệt, viêm họng: Rau dền tươi 30g, nấu canh hoặc sắc uống, dùng 3-5 ngày. Mụn nhọt, viêm da: Lá dền tươi giã đắp hoặc nấu nước rửa, 2-3 lần/ngày, dùng 3-5 ngày. Táo bón, nóng trong: Rau dền 20g, rau má 10g; sắc uống, dùng 3-5 ngày. Táo bón, nóng trong: Rau dền 20g, rau má 10g; sắc uống, dùng 3-5 ngày. Viêm gan, vàng da: Rau dền 15g, nhân trần 10g, cỏ mực 10g; sắc uống, dùng 7-10 ngày. Hỗ trợ tiêu hóa, bổ máu: Rau dền tươi 20-30g, nấu canh với tôm hoặc gan heo, ăn ngày 1 lần. Lợi tiểu, viêm đường tiết niệu: Rễ dền 15g, rễ cỏ tranh 10g; sắc uống, dùng 5-7 ngày.
Tươi 20-50g/ngày (nấu canh, giã vắt nước hoặc sắc uống); khô 10-20g/ngày. Dùng ngoài: giã đắp hoặc nấu nước rửa. Phụ nữ mang thai, người tỳ vị hư hàn dùng thận trọng.
Tránh dùng quá liều (gây lạnh bụng, tiêu chảy). Người huyết áp thấp hoặc dị ứng nên thử liều nhỏ. Kết hợp thuốc Tây (kháng viêm, tiêu hóa) cần hỏi bác sĩ.
Toàn cây (lá, thân, rễ), dùng tươi hoặc khô; lá chủ yếu dùng ăn.
Amaranthus spinosus L.
Vị ngọt, tính mát, quy kinh Tỳ, Vị, Đại trường; thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, kháng viêm, chữa viêm da, mụn nhọt, viêm họng, táo bón.
Cây thảo sống hàng năm, cao 0.3-1m, thân màu xanh hoặc đỏ, có gai nhỏ ở nách lá. Lá hình trứng hoặc mác, mép nguyên, dài 3-10cm, màu xanh hoặc đỏ tía. Hoa nhỏ, màu xanh, mọc thành bông ở nách lá hoặc ngọn. Toàn cây (thân, lá, rễ) thu hái quanh năm, dùng tươi hoặc phơi khô.
Rau dền gai là dược liệu và rau ăn phổ biến trong dân gian Việt Nam, được dùng để thanh nhiệt, giải độc, chữa viêm da, mụn nhọt, viêm họng và hỗ trợ tiêu hóa. Cây chứa flavonoid, betacyanin, vitamin C, giúp kháng viêm, kháng khuẩn, lợi tiểu. Được ghi nhận trong sách cổ của GS. Đỗ Tất Lợi, thường dùng dưới dạng nấu canh, sắc uống, giã đắp hoặc làm trà.
Thanh nhiệt, viêm họng: Rau dền gai tươi 30g, nấu canh hoặc sắc uống, dùng 3-5 ngày. Mụn nhọt, viêm da: Lá dền gai tươi giã đắp hoặc nấu nước rửa, 2-3 lần/ngày, dùng 3-5 ngày. Táo bón, nóng trong: Rau dền gai 20g, rau má 10g; sắc uống, dùng 3-5 ngày. Viêm gan, vàng da: Rau dền gai 15g, nhân trần 10g; sắc uống, dùng 7-10 ngày. Hỗ trợ tiêu hóa: Rau dền gai tươi 20-30g, nấu canh với tôm hoặc thịt, ăn ngày 1 lần. Lợi tiểu, viêm đường tiết niệu: Rễ dền gai 15g, rễ cỏ tranh 10g; sắc uống, dùng 5-7 ngày.
Tươi 20-50g/ngày (nấu canh, giã vắt nước hoặc sắc uống); khô 10-20g/ngày. Dùng ngoài: giã đắp hoặc nấu nước rửa. Phụ nữ mang thai, người tỳ vị hư hàn dùng thận trọng.
Tránh dùng quá liều (gây lạnh bụng, tiêu chảy). Người huyết áp thấp hoặc dị ứng nên thử liều nhỏ. Kết hợp thuốc Tây (kháng viêm, tiêu hóa) cần hỏi bác sĩ. Chọn cây sạch, tránh cây mọc gần khu vực ô nhiễm (thuốc trừ sâu, nước thải); rửa kỹ trước khi dùng.
Toàn cây (lá, thân, rễ), dùng tươi hoặc khô; lá thường dùng ăn.
Jussiaea repens L
vị ngọt nhạt, tính mát
Rau dừa nước.
Jussiaea repens là cây thảo sống dưới nước hoặc bán thủy sinh, mọc hoang ven ao, ruộng và được dùng trong dân gian để lợi tiểu, giải nhiệt, làm mát máu, chữa sưng phù, mụn nhọt và các bệnh viêm da.
lợi tiểu, thanh nhiệt, giải độc, mát máu.
Phụ thuộc vào mục đích sử dụng và tình trạng cây (tươi hay khô). Thông thường, dùng tươi là 30 – 40g/ngày, còn dùng khô là 10 – 20g/ngày.
Không có thông tin lưu ý
Toàn cây.
Alpinia officinarum Hance
vị cay, mùi thơm, tính ôn, vào hai kinh tỳ và vị.
Cây riềng, họ: Gừng
Riềng là cây thân thảo, thân rễ củ được sử dụng rộng rãi làm gia vị và dược liệu. Cây được dùng trong dân gian chữa đầy bụng, đau bụng, cảm lạnh, ho, viêm phế quản, đau nhức xương khớp và các bệnh tiêu hóa.
Làm ấm bụng, chống lạnh, cầm nôn, giảm đau, ợ hơi.
dao động từ 3 - 16 gram mỗi ngày tùy thuộc vào mục đích sử dụng và tình trạng sức khỏe
Không có thông tin lưu ý
Thân rễ đã loại bỏ rễ con, vết lá còn lại, rửa sạch, cắt phiến rồi phơi hay sấy khô
Coriandrum sativum
Tính ôn
Quả mùi có 0,3 đến 0,8 hoặc 1% tinh dầu. 13-20% chất béo, 16-18% protein, 3-8% xenluloza và 13% chất không nito
Cây mùi được trồng phổ biến ở khắp nước ta nhưng chỉ thấy để lấy lá làm gia vị hay một số ít dùng trong ngày tết nấu nước tắm cho thơm. Tại nhiều nước vùng ven Địa Trung Hải, Trung Á, Ấn Độ, Trung Quốc người ta trồng đại quy mô để lấy quả làm thuốc và cất tinh dầu dùng trong công nghiệp nước hoa. Cây mùi ưa đất kiềm, mát, dễ hút nước, cày bừa kỹ, tránh nơi đất sét và dâm mát vì cây mùi ưu ánh sáng. Quả chín tới đâu thu hái tới đấy để tránh cho những quả chín quá khỏi rụng. Hái toàn tán, phơi nắng cho khô rồi đập lấy quả, tiếp tục phơi nắng cho khô và bảo quản tránh ẩm. Khi khô, quả mùi mất mùi hôi và trở thành thơm dễ chịu.
Ngoài quả ra, người ta còn dùng cả rễ và lá làm thuốc.
Đậu sởi không mọc: Quả mùi 80g tán nhỏ, rượu 100ml, nước 100ml. Đun sôi, đậy kín tránh bay hơi. Lọc bỏ bã. Phun từ đầu đến chân, trừ mặt. Đậu sẽ mọc ngay. Đẻ xong cạn sữa: Quả mùi 6g, nước 100ml. Đun sôi trong 15 phút, chia 2 lần uống trong ngày. Mặt có những nốt đen: Quả mùi sắc nước rửa luôn, nốt đen sẽ mất dần. Lòi dom: Quả mùi đốt hun lấy khói hứng vào nơi lòi ra.
4-10g quả mùi hoặc 10-20g lá tươi.
Không có thông tin lưu ý
Lá, quả,
Centella asiatica (L.) Urban
Vị đắng nhẹ, hơi ngọt, tính mát; tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, mát gan, tăng cường tuần hoàn, làm lành vết thương.
Mọc hoang ở nơi ẩm ướt, bờ ruộng, ven sông; có thể trồng bằng hom thân.
Rau má là vị thuốc và thực phẩm quen thuộc, giúp thanh nhiệt, mát gan, giải độc, hỗ trợ làm lành vết thương và chăm sóc da.
Thanh nhiệt, giải độc, mát gan: 20–40 g rau má tươi giã nát, vắt lấy nước uống. Nhiệt miệng, mụn nhọt: Rau má 30 g, rửa sạch, giã lấy nước uống và bã đắp ngoài. Hạ sốt, lợi tiểu: 30–50 g rau má tươi nấu nước uống. Làm lành vết thương, bỏng nhẹ: Giã nát rau má tươi đắp trực tiếp.
20–40 g/ngày dạng tươi; 6–12 g/ngày dạng khô; dùng ngoài lượng vừa đủ.
Không dùng quá liều vì có thể gây lạnh bụng, tiêu chảy; phụ nữ có thai nên hạn chế dùng liều cao.
Toàn cây (phần trên mặt đất), dùng tươi hoặc phơi khô.
Ipomoea pes-caprae
Vị cay, đắng nhẹ; tính hơi lạnh; tác dụng tiêu viêm, trừ phong thấp, lợi tiểu, giải độc ngoài da;
Mọc hoang ở các bãi cát ven biển; chịu được khí mặn; thu hái quanh năm; dùng tươi hoặc phơi khô;
Rau muống biển là vị thuốc dân gian quý, phù hợp với bệnh ngoài da, phong thấp, dị ứng, đồng thời được sử dụng rộng rãi ở các vùng ven biển ở Việt Nam; nó cũng có vai trò bảo vệ môi trường cát ven biển.
Chân tay đau nhức, tê thấp: sắc toàn cây muống biển uống. Mụn nhọt, viêm da có mủ: dùng lá tươi giã nát đắp ngoài. Dị ứng sứa biển, ngứa ngoài da: dùng nước ép rau muống biển bôi lên vùng da bị dị ứng. Phù thũng, phù do ứ nước, thông tiểu tiện: sắc uống muống biển.
30-60 g dùng tươi, hoặc 10-20 g khi dùng khô mỗi ngày. Dùng ngoài lượng vừa đủ.
Không dùng cho phụ nữ có thai; người bị sỏi thận, viêm đường tiết niệu nên thận trọng; sử dụng quá mức có thể gây kích ứng hoặc ảnh hưởng hệ tiêu hóa.
Toàn cây; thường là lá và thân (cả rễ khi cần)
Orthosiphon spiralis (Lour.) Merr
Vị ngọt, nhạt, tính mát. Tác dụng lợi tiểu mạnh, hỗ trợ đào thải acid uric, giảm sưng viêm, hạ huyết áp nhẹ.
Thân vuông, phân nhánh nhiều. Lá mọc đối, mép có răng cưa, hoa mọc thành chùm ở ngọn, nhị dài cong ra ngoài.
Râu mèo (Orthosiphon aristatus (Blume) Miq.), thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae), là cây thảo sống lâu năm, cao 30–60cm. Hoa màu trắng hoặc tím nhạt, nhị và nhụy dài thò ra như râu mèo – đặc điểm làm nên tên gọi. Cây được trồng phổ biến để làm thuốc lợi tiểu.
Sỏi thận, tiểu buốt: Râu mèo khô 10g, hãm nước sôi uống thay trà, liên tục 2–4 tuần. Phù thũng, cao huyết áp: Râu mèo 8g, kết hợp râu ngô 12g, mã đề 10g, sắc uống. Bệnh gút, tăng acid uric: Râu mèo 10g, kim tiền thảo 20g, sắc uống hàng ngày.
Ngày dùng 8–12g dược liệu khô, hãm hoặc sắc uống như trà.
Không có thông tin lưu ý
Toàn bộ phần trên mặt đất (thân, lá, hoa).
Portulaca oleracea L
Vị chua, tính hàn. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chỉ lỵ, lợi tiểu, sát trùng, tiêu viêm.
Cây thảo, sống hằng năm, mọng nước, cao 10–20cm, phân nhánh nhiều, lá hình bầu dục ngắn, hoa vàng mọc đơn độc ở nách lá.
Rau sam, tên khoa học Portulaca oleracea L., thuộc họ Rau sam (Portulacaceae). Là cây cỏ mọc bò sát đất, thân đỏ hồng, mọng nước, lá mọc đối hoặc vòng, phiến lá dày, hoa vàng nhỏ. Mọc hoang khắp nơi, thường dùng làm rau và làm thuốc.
Lỵ trực khuẩn: Rau sam tươi 50g, sắc với 400ml nước, uống ngày 2 lần. Tiểu buốt, tiểu rắt: Rau sam tươi 100g, sắc với râu ngô và mã đề. Mụn nhọt, viêm da: Giã nát rau sam tươi, đắp ngoài. Giun kim: Ăn rau sam sống hoặc ép lấy nước uống liên tục 3–5 ngày.
Ngày dùng 30–50g cây tươi hoặc 10–20g cây khô, sắc uống.
Không có thông tin lưu ý
Toàn cây (trừ rễ).
Commelina communis L
Vị ngọt nhạt, tính mát. Có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, giải độc, giảm viêm, cầm máu nhẹ.
Là cây thảo, thân mọng nước, mềm, dễ gãy.
Rau trai (thài lài), tên khoa học Commelina communis L., thuộc họ Thài lài (Commelinaceae). Cây cỏ mọc bò, thân mềm màu xanh nhạt, lá mọc so le, phiến lá thuôn dài, cụm hoa màu lam tím. Cây mọc hoang khắp nơi, ưa ẩm, thường gặp ở vườn, bờ ruộng.
Thanh nhiệt, giải độc, viêm họng, tiểu buốt: Rau trai tươi 50g, sắc uống ngày 1 lần. Sốt cao, nóng trong người: Rau trai tươi 100g giã nát, vắt lấy nước uống, bã đắp trán. Viêm da, mụn nhọt: Dùng rau trai tươi giã nát, đắp ngoài. Cầm máu cam: Sắc rau trai khô 20g với 400ml nước, uống chia 2 lần/ngày.
Ngày dùng 30–60g cây tươi hoặc 15–30g cây khô, sắc uống.
Không có thông tin lưu ý
Toàn cây (thân, lá, hoa), thu hái quanh năm.
Cymbopogon spp
Vị: cay, thơm. Tính: ấm. Quy kinh: phế, vị.
Nhóm loài thực vật họ Hòa thảo,
Sả (Cymbopogon citratus (DC.) Stapf), thuộc họ Lúa (Poaceae), là cây cỏ sống lâu năm, cao 1–1,5m, có mùi thơm đặc trưng. Lá hẹp dài, gốc lá ôm thân thành bẹ, cụm rễ mọc thành bụi. Cây được trồng phổ biến khắp nơi làm gia vị, lấy tinh dầu, và làm thuốc.
Phát tán phong hàn (giải cảm lạnh, sốt). Hành khí, kiện vị (kích thích tiêu hóa, giảm đầy bụng). Lợi tiểu, tiêu phù. Trừ thấp, kháng khuẩn, khử mùi.
Dùng trong: Lá tươi 10 – 20 g, sắc uống chữa cảm, ăn không tiêu. Nấu nước sả uống giải nhiệt, lợi tiểu. Dùng ngoài: Lá sả nấu nước xông giải cảm, trị cảm cúm. Tinh dầu sả pha loãng để xoa bóp, xua muỗi.
Không có thông tin lưu ý
Thân, lá tươi hoặc khô. Tinh dầu sả chưng cất từ lá/thân.
Wedelia chinensis (Osbeck) Merr
Xạ can có vị đắng, tính hàn, hơi độc, quy vào hai kinh can và phế.
Cây Sài đất
Sài đất (húng trám, ngổ núi, cúc giáp) – tên khoa học Wedelia calendulacea (L.) Less., thuộc họ Cúc (Asteraceae). Là cây cỏ sống dai, mọc bò lan, thân xanh có lông nhỏ, lá mọc đối, hoa vàng tươi. Cây mọc hoang và được trồng nhiều nơi, thu hái quanh năm, thường dùng tươi để ăn hoặc làm thuốc.
Viêm tấy ngoài da, mụn nhọt, chốc đầu, áp-xe đầu đinh: Giã nát sài đất tươi, đắp trực tiếp lên vùng viêm sưng, mỗi ngày thay thuốc 1–2 lần. Sốt cao, cảm sốt, rôm sảy, phòng sởi: Uống nước giã sài đất tươi (100 g/ngày) hoặc nấu nước tắm hằng ngày. Viêm bàng quang: Uống nước sắc sài đất tươi hoặc khô theo liều đã nêu, liên tục 3–5 ngày cho đến khi giảm triệu chứng. Đau mắt, sưng đau khớp: Nước sài đất tươi có thể dùng rửa mắt (lọc kỹ) hoặc đắp ngoài khớp sưng.
Dùng tươi: 100 g cây sài đất tươi mỗi ngày. Giã nát với ít muối, thêm 100 ml nước đun sôi để nguội, vắt lấy nước chia 1–2 lần uống trong ngày. Bã có thể đắp ngoài chỗ sưng đau. Dùng khô: 50 g sài đất khô sắc với 0,5 lít nước, cô còn 200 ml, chia 1–2 lần uống trong ngày. Thời gian điều trị: thường 1–2 ngày, nhiều nhất 5–7 ngày. Có thể chế thành cao, siro, thuốc bột hoặc viên để tiện dùng, nhưng cần nghiên cứu thêm để tối ưu hiệu quả.
Không có thông tin lưu ý
Thân rễ phơi hoặc sấy khô của cây rẻ quạt (Rhizoma Belamcandae). Khi dùng, thân rễ được đào vào mùa xuân hoặc mùa thu, rửa sạch, cắt bỏ rễ con, phơi hoặc sấy khô. Trước khi dùng, thường ngâm nước gạo một đến hai ngày cho mềm, thái mỏng, tiếp tục phơi hoặc sấy khô để dùng dần.
Launaea pinnatifida
Vị: ngọt, hơi đắng. Tính: mát. Quy kinh: phế, vị.
Cây sa sâm. Họ: Cúc
Launaea pinnatifida là cây thảo sống lâu năm, mọc hoang ở các vùng đất khô, cát hoặc ven biển. Cây được dân gian sử dụng để lợi tiểu, giải độc, thanh nhiệt, chữa phù nề, viêm thận và các bệnh về đường tiết niệu.
Dưỡng âm, thanh phế, sinh tân dịch. Trị ho khan, ho lâu ngày, khô họng, miệng khát. Dùng cho người âm hư, sốt kéo dài, tân dịch hao tổn.
Rễ khô: 6 – 12 g/ngày, sắc uống.
Không có thông tin lưu ý
rễ phơi/sấy khô.
Abelmoschus moschatus Medik.ssp. tuberosus (Span) Borss
Vị ngọt đắng, tính mát, quy kinh Tỳ, Phế; bổ khí huyết, giảm ho trừ đờm, thông tiểu tiện, điều kinh, an thần, chữa ho sốt, suy nhược, rối loạn kinh nguyệt, lao phổi.
Cây thảo sống lâu năm, cao 0.5-2m, thân mảnh, phân nhánh, có lông mịn. Lá ở gốc bầu dục, lá giữa và ngọn xẻ 5 thùy hình dải, dài 10-20cm. Hoa màu đỏ tươi, 5 cánh, đường kính 5-7cm. Rễ hình củ, dài 10-20cm, ngoài nâu, trong trắng, chứa 30-40% chất nhầy. Rễ thu hái mùa thu đông, cắt rễ con, phơi/sấy khô.
Sâm bố chính là dược liệu quý được phát hiện từ thế kỷ 15 tại Quảng Bình, được danh y Hải Thượng Lãn Ông gọi là "Nam Nhân Sâm" nhờ công dụng bồi bổ khí huyết, an thần, giảm ho và chữa suy nhược, rối loạn kinh nguyệt. Cây chứa chất nhầy (30-40%), flavonoid, giúp bổ khí, trừ đờm, thông tiểu. Được ghi nhận trong Dược điển Việt Nam V và là một trong 70 cây thuốc mẫu của Bộ Y tế, thường dùng dưới dạng sắc uống, bột hoặc ngâm rượu.
Suy nhược, kém ăn, mất ngủ: Rễ sâm bố chính 20g, hoàng kỳ 12g, tần quy 8g, sơn khương 8g, mộc hương 8g, hoa cúc 8g, dư dung 8g, long nhãn 8g, táo nhân 8g, phục linh 6g, tiểu thảo 6g; sắc uống ngày 1 thang, dùng 7-10 ngày. Ho lao phổi, sốt nóng: Rễ sâm bố chính 15g, cát cánh 10g, cam thảo 4g; sắc uống, dùng 5-7 ngày. Rối loạn kinh nguyệt: Rễ sâm bố chính 12g, ích mẫu 10g; sắc uống, dùng 5-7 ngày trước kinh. Bồi bổ tăng lực, thiếu máu: Rễ sâm bố chính 100g, hạt sen 100g, hà thủ ô 100g, cam thảo 40g, thảo quả 12g, đại hồi 8g; tán bột làm viên, uống 20g/ngày chia 2 lần. Đau lưng, mỏi mệt: Rễ sâm bố chính 15g, đương quy 20g, hoàng kỳ 20g, phục linh 20g, lộc nhung 8g, chích thảo 8g; sắc uống, dùng 7 ngày. An thần, chống co giật: Rễ sâm bố chính bột 6-12g/ngày, uống với nước ấm.
10-20g/ngày (sắc uống hoặc bột); ngâm rượu: 1kg rễ/5 lít rượu 40 độ, uống 20-30ml/ngày. Dùng ngoài: giã đắp. Phụ nữ mang thai, người tỳ vị hư hàn dùng thận trọng.
Tránh dùng quá liều (gây lạnh bụng, tiêu chảy). Người suy giáp, huyết áp thấp hoặc dị ứng nên thử liều nhỏ. Kết hợp thuốc Tây (an thần, kháng sinh) cần hỏi bác sĩ. Chọn rễ sạch, tránh hàng mốc; tẩm gừng sao nếu tỳ hàn. Không dùng lâu dài cho trẻ em dưới 6 tuổi.
Rễ (chủ yếu), đôi khi dùng lá hoặc toàn cây; dùng khô hoặc tươi.
Pueraria montana (Lour.) Merr.var. chinensis (Ohwi) Maesen
Vị: ngọt, cay. Tính: mát. Quy kinh: tỳ, vị, phế.
cây sắn dây, họ: đậu
Sắn dây là cây thuốc quý, vừa là thực phẩm vừa là vị thuốc dân gian nổi tiếng. Ngoài tác dụng giải rượu, hạ sốt, sắn dây còn được nghiên cứu nhiều trong điều trị bệnh tim mạch và tiểu đường nhờ hoạt chất isoflavon trong rễ.
Giải biểu, thoái nhiệt (chữa cảm mạo, sốt, nhức đầu, mệt mỏi). Sinh tân, chỉ khát (giúp hết khát nước, miệng khô). Thư cân, chỉ thống (giảm đau cơ, nhức mỏi). Thăng dương, chỉ tả (chữa tiêu chảy, lỵ). Hoa sắn dây: giải rượu, tiêu khát, thanh nhiệt.
Rễ củ khô: 12 – 30 g/ngày, sắc uống. Hoa sắn dây: 12 – 20 g/ngày, sắc uống (thường dùng giải rượu). Tinh bột sắn dây: 10 – 20 g, hòa với nước đun sôi để nguội, uống mát.
Người tỳ vị hư hàn, hay lạnh bụng, tiêu chảy nên thận trọng khi dùng nhiều tinh bột sắn dây sống. Không nên lạm dụng bột sắn dây uống quá đặc → có thể gây đầy bụng, khó tiêu. Phụ nữ mang thai có thể dùng lượng nhỏ bột sắn dây chín, nhưng tránh lạm dụng.
rễ củ
Azadirachta indica
Không có thông tin dược tính
Cây Sầu đâu
Sầu đâu, còn gọi là neem, là cây thuốc quý ở vùng nhiệt đới, được trồng nhiều ở miền Trung và Nam Việt Nam. Ngoài công dụng y học, cây còn được sử dụng làm thuốc trừ sâu sinh học nhờ hợp chất azadirachtin có khả năng xua đuổi và diệt côn trùng.
Nhiễm giun đường ruột: Dùng hạt sầu đâu sắc uống. Sốt cao, cảm nóng: Lá sầu đâu nấu nước uống hoặc tắm. Ghẻ lở, ngứa ngoài da: Lá tươi giã nát đắp hoặc nấu nước tắm. Đái tháo đường (theo dân gian): Uống nước sắc lá sầu đâu non.
5–10 g lá khô hoặc 15–30 g lá tươi/ngày; dầu hạt dùng ngoài da với lượng nhỏ.
Không có thông tin lưu ý
Lá, vỏ thân, hạt
Bulbosa Eleutherine
Tính vị: Sâm Đại Hành có vị ngọt nhạt, tính bình, quy vào 3 kinh gồm can, tỳ, phế.
Cây Sâm Đại Hành
Sâm đại hành, còn gọi là tỏi đỏ, là cây thuốc quý của Việt Nam. Nhân dân dùng củ để bổ huyết, chữa suy nhược, trị ho và làm thuốc bổ dưỡng. Hiện nay được nghiên cứu sâu về dược tính, có tiềm năng ứng dụng trong y học hiện đại.
Giảm ho, tiêu độc, cầm máu, tiêu viêm, kháng khuẩn.
Sâm đại hành được dùng dưới dạng thuốc sắc, chế thành viên hoặc ngâm rượu. Ngoài ra, trong một số trường hợp bệnh, vị thuốc này được dùng dưới dạng đắp. Liều lượng dùng thường là 4 – 12 gram/ ngày (nguyên liệu tươi hoặc khô). Sử dụng sâm đại hành, rửa sạch, giã nát và vắt lấy nước uống
Không có thông tin lưu ý
Thân hành (củ)
Nelumbo nucifera Gaertn
Tua sen (Liên tu) Vị ngọt, sáp, bình, Lá sen (Hà diệp) Vị đắng, chát, tính bình, Lá sen (Hà diệp) Vị đắng, chát, tính bình, Lá sen (Hà diệp) Vị đắng, chát, tính bình, Ngó sen (Liên ngẫu) Vị ngọt, tính hàn, Gương sen (Liên phòng) Vị đắng, sáp, bình, Tâm sen (Liên tâm) Vị đắng, tính hàn, Hạt sen (Liên nhục) Vị ngọt, tính bình
sen
Sen là loài cây gắn liền với văn hóa và đời sống người Việt, vừa là thực phẩm, cây cảnh, vừa là vị thuốc quý trong y học cổ truyền và hiện đại.
Hạt sen: chữa bệnh đường ruột, di mộng tinh, hồi hộp mất ngủ, cơ thể suy nhược. Hạt sen dùng làm thực phẩm Tâm sen: chữa sốt khát nước, huyết áp cao, mất ngủ Gương sen: cầm máu trong băng huyết, rong huyết Tua nhị sen: chữa băng huyết, thổ huyết Lá sen: trị say sóng, viêm ruột, nôn ra máu, chảy máu cam. Ngó sen: cầm máu, trị tiêu chảy.
Hạt sen (Liên nhục): dùng 8–20 g mỗi ngày. Lá sen (Hà diệp): dùng 8–20 g sắc uống, hoặc 2–3 g hãm trà. Ngó sen (Liên ngẫu): dùng 15–30 g tươi, giã vắt lấy nước uống hoặc nấu ăn. Tua sen (Liên tu): dùng 8–12 g. Gương sen (Liên phòng): dùng 10–15 g.
Không có thông tin lưu ý
hạt, tâm sen, gương sen, tua nhị sen, ngó sen, lá sen
Rhodomyrtus tomentosa (Ait.) Hassk
Vị: ngọt, chát. Tính: bình.
cây sim
Sim là loài cây mọc nhiều ở đồi núi, đất cát ven biển miền Trung và Nam Bộ. Vừa có giá trị làm cảnh, làm rượu, vừa là vị thuốc dân gian quý trong điều trị bệnh đường ruột và bồi bổ sức khỏe.
Quả: bổ huyết, sinh tân dịch, chữa tiêu chảy, kiết lỵ, thiếu máu. Lá: thu liễm, cầm máu, sát khuẩn, chữa tiêu chảy, viêm ruột, vết thương ngoài da. Vỏ rễ: chữa đau bụng, tiêu chảy, phong thấp.
Quả sim khô dùng để chữa suy nhược, chảy máu mũi, đại tiện xuất huyết thường dùng 15-20g hoặc 20-24g sắc nước uống. Lá sim tươi dùng cho viêm dạ dày, viêm ruột cấp có thể dùng 50-100g hoặc 100g sắc uống. Rễ sim dùng cho phong thấp, đau nhức xương với liều 40g hoặc 60g sắc uống
Không có thông tin lưu ý
búp non, lá, nụ hoa, quả chín, thân và rễ
Panax vietnamensis var. fuscidiscus K.Komatsu, S.Zhu & S.Q.Cai
Vị: ngọt, hơi đắng. Tính: mát. Quy kinh: tỳ, phế, thận.
biến chủng của Sâm Ngọc Linh
Sâm Lai Châu là loài sâm quý hiếm của Việt Nam, được phát hiện ở độ cao trên 1.500 m tại Lai Châu. Hàm lượng saponin cao, công dụng gần giống Sâm Ngọc Linh nên được đánh giá là nguồn dược liệu tiềm năng, góp phần thay thế và phát triển vùng trồng sâm trong nước.
Bổ khí huyết, ích tinh, tăng lực. An thần, giảm mệt mỏi, chống suy nhược. Tăng sức đề kháng, hỗ trợ phục hồi cơ thể.
Liều thường dùng: 1–3 g củ khô/ngày (dạng ngâm rượu, ngậm, hoặc sắc uống).
Không nên lạm dụng → có thể gây mất ngủ, hồi hộp, tăng huyết áp. Chống chỉ định tương đối: phụ nữ có thai, trẻ nhỏ, người tăng huyết áp chưa kiểm soát.
rễ
Panax vietnamensis Ha et Grushv.
Vị đắng, hơi ngọt, tính ấm. Có tác dụng đại bổ nguyên khí, chống suy nhược, tăng cường miễn dịch, an thần, chống stress, kháng viêm, chống oxy hóa và phòng ngừa ung thư.
Cây thân thảo
Sâm Ngọc Linh là loài đặc hữu của Việt Nam, được phát hiện ở núi Ngọc Linh (Kon Tum – Quảng Nam). Đây là một trong những loại sâm quý nhất thế giới, được xem là “quốc bảo” với giá trị dược liệu và kinh tế rất cao.
Suy nhược cơ thể, mệt mỏi: Dùng 5–10 g rễ sâm hãm trà hoặc ngâm rượu uống. Tăng cường trí nhớ, giảm stress: Ngậm lát sâm tươi 1–2 g. Hỗ trợ ung thư, sau xạ trị: Dùng Sâm Ngọc Linh tán bột 2–3 g/ngày.
2–6 g/ngày (dạng lát ngậm, sắc, hãm trà hoặc ngâm rượu). Không dùng liều cao kéo dài, không dùng cho phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ.
Không có thông tin lưu ý
Rễ củ và thân rễ
Mirabilis jalapa L - Nyctaginaceae
Vị: ngọt, hơi đắng, tính ấm. Quy kinh: tỳ, phế, thận.
một loài thuộc họ Nhân sâm (Araliaceae)
Sâm ớt là cây thuốc quý trong dân gian, thường được dùng để chữa các bệnh về tiêu hóa, cảm lạnh, đau nhức. Ngoài ra, nó còn được sử dụng như gia vị thay cho gừng, tiêu và ớt trong ẩm thực.
Bổ khí, cường gân cốt. Tăng cường sinh lực, chống mệt mỏi. Hỗ trợ tiêu hóa, ăn uống kém. Giảm đau nhức xương khớp. Một số nơi dùng chữa ho, hen, suy nhược cơ thể.
Liều dùng thường: 10 – 20 g rễ khô/ngày (sắc uống). Có thể ngâm rượu (50 g rễ khô ngâm 1 lít rượu 35–40°, uống 15–20 ml/ngày).
Không nên dùng quá liều → dễ gây nóng trong, mất ngủ, đánh trống ngực. Phụ nữ có thai, trẻ nhỏ cần thận trọng.
rễ củ
Sesbania grandiflora Pers
Vị ngọt, tính mát. Có tác dụng: thanh nhiệt, nhuận tràng, tiêu viêm, lợi tiểu, hạ sốt, an thần.
Cây gỗ nhỏ, cao 3–10m, cành mềm.
So đũa là cây vừa làm cảnh, vừa làm thực phẩm (hoa nấu canh chua, xào) và là dược liệu quen thuộc trong dân gian. Hoa so đũa giàu dinh dưỡng, vị ngọt mát, được xem là “rau thuốc” ở nhiều vùng nông thôn, giúp bồi bổ, thanh nhiệt, hỗ trợ điều trị ho, viêm họng và bệnh đường tiêu hóa.
Ho, viêm họng: Hoa so đũa tươi 10–15g, hấp với mật ong, ăn trong ngày. Sốt, tiêu chảy: Vỏ rễ so đũa 12g, sắc uống. Đau nhức khớp, viêm: Lá so đũa giã nát, đắp ngoài chỗ sưng đau. Mất ngủ nhẹ: Hoa so đũa nấu canh ăn buổi tối.
8–15g khô/ngày hoặc 20–30g tươi/ngày, dùng sắc uống hay nấu ăn.
Không có thông tin lưu ý
Hoa, lá, vỏ rễ.
Fructus Quisqualis Indica L
Vị ngọt, tính ôn, không độc. Chứa hợp chất chính là axit quisqualis.
Là loại dây leo thân gỗ, lá mọc đối, hình trứng. Hoa màu trắng hoặc hồng, sau chuyển đỏ. Quả có 5 cạnh dọc.
Sử quân tử là cây dây leo thường trồng làm cảnh nhờ hoa đẹp và thơm, đồng thời được biết đến là vị thuốc tẩy giun an toàn, hiệu quả cho trẻ em. Với hương sắc đặc biệt và giá trị y học cao, sử quân tử vừa có giá trị dược liệu, vừa mang ý nghĩa trong đời sống dân gian.
Chữa giun đũa, giun kim, trẻ em tiêu hóa kém, đái dầm, lở ngứa, cam tích.
Giun đũa: Trẻ em dùng 1-5 hạt, người lớn dùng 5-10 hạt, uống vào lúc đói. Giun kim: Dùng 3g bột sau bữa ăn tối. Trẻ em tiêu hóa kém: Dùng 5-7 hạt/ngày.
Nếu uống quá liều có thể gây nấc và nôn. Không nên nhai nát hạt mà nuốt cả để tránh bị say.
Nhân quả (hạt của quả), được phơi khô.
Docynia indica
Vị chua chát, tính ấm. Có tác dụng: kiện vị, tiêu thực, hóa tích, hoạt huyết, hạ mỡ máu.
Cây gỗ nhỏ, cao 5–12m.
Táo mèo là cây đặc sản của vùng núi Tây Bắc Việt Nam, nổi tiếng với hương vị chua chát, được dùng làm rượu táo mèo. Không chỉ là thực phẩm, quả táo mèo còn là vị thuốc dân gian quý, có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa, giảm mỡ máu và cải thiện tim mạch.
Ăn không tiêu, đầy bụng: Táo mèo khô 10–15g, sắc uống. Đau bụng do ứ trệ: Táo mèo phối hợp với mộc hương, chỉ xác. Mỡ máu cao: Táo mèo 15g, hoa hòe 12g, hãm nước uống thay trà. Huyết áp cao: Táo mèo 10g, lá vối 8g, cam thảo đất 12g, sắc uống.
6–12 g khô/ngày dưới dạng thuốc sắc hoặc hãm trà. Quả tươi có thể ngâm rượu hoặc chế biến mứt, siro.
Không có thông tin lưu ý
Quả (tươi hoặc phơi khô).
Panax pseudoginseng
Tính vị: vị ngọt hơi đắng, tính ôn. Quy kinh: can, vị.
Cây tam thất
Sâm tam thất là vị thuốc quý, được coi là “kim bất hoán” (vàng cũng không đổi). Đông y đánh giá cao công dụng của tam thất trong việc bổ dưỡng, cầm máu và hỗ trợ điều trị tim mạch, đặc biệt tốt cho người suy nhược, phụ nữ sau sinh và bệnh nhân tai biến.
Tán ứ, chỉ huyết (cầm máu trong và ngoài). Hoạt huyết, tiêu thũng, giảm đau. Bổ dưỡng, tăng lực, tốt cho huyết áp, tim mạch. Hoa tam thất: an thần, giảm lo âu, hỗ trợ giấc ngủ.
Bột củ tam thất: 1 – 3 g/lần, ngày 2 – 3 lần (uống với nước ấm hoặc cho vào cháo). Thuốc sắc: 3 – 10 g củ/ngày. Hoa tam thất: 3 – 9 g/ngày, hãm trà hoặc sắc.
Không có thông tin lưu ý
củ (rễ củ), đôi khi dùng cả hoa
Ficus racemosa
Vị ngọt, hơi chát; tính bình.
Cây Sung
Cây sung là loài quen thuộc ở Việt Nam, không chỉ được trồng làm cảnh mà còn là nguồn dược liệu dân gian. Quả, lá và nhựa sung có nhiều công dụng chữa bệnh, đặc biệt trong các chứng rối loạn tiêu hóa, nhiệt miệng và lở loét.
Thanh nhiệt, giải độc, lợi thấp, kiện tỳ, chỉ khát.
12–24g khô/ngày, Dùng khô (quả, lá, vỏ), dùng tươi có thể nhiều hơn
Không có thông tin lưu ý
Quả, lá, vỏ thân, rễ
Piper nigrum
Vị cay, tính ôn; vào vị, đại tràng.
Cây Hồ tiêu
Hồ tiêu là loại gia vị quen thuộc, đồng thời là vị thuốc trong y học cổ truyền. Với tính cay, nóng, hồ tiêu có tác dụng làm ấm bụng, kích thích tiêu hóa, chữa đau bụng lạnh, tiêu chảy và ho có đờm. Tuy nhiên, không nên dùng quá liều vì có thể gây kích thích dạ dày.
Tán hàn, ôn trung, chỉ thống, tiêu đàm, kích thích tiêu hóa.
2–5g/ngày, dùng dạng bột hoặc thuốc sắc.
Không có thông tin lưu ý
Quả chín
Combretum qualrangulare
Tẩy giun: Nước pha, cao cồn hoặc cao axeton từ quả/cành có tác dụng tẩy giun rõ rệt (đã thử nghiệm trên chuột). Chứa tanin: Có hoạt chất tanin, giúp se niêm mạc và hỗ trợ chống nhiễm khuẩn nhẹ. Hỗ trợ tiêu hóa & cải thiện sức khỏe vật nuôi: Vỏ cây được dùng làm thuốc cho trâu, bò, ngựa gầy yếu.
Cây trâm bầu
Trâm bầu là cây thuốc dân gian quen thuộc, mọc nhiều ở vùng nông thôn Việt Nam. Cây được dùng chủ yếu để tẩy giun, trị lỵ, tiêu chảy, và các bệnh viêm nhiễm đường ruột. Ngoài ra, vỏ và lá còn có tác dụng hỗ trợ điều trị đau nhức xương khớp.
thuốc chữa giun đũa, dùng phối hợp với lá mơ tam thể Paederia tomentosa. Thái nhỏ hai thứ trộn đều thêm bột và nước làm bánh ăn vào sáng sớm lúc đói. chữa trâu bò ngựa gầy gò. Nếu 5kg thóc với 500g vỏ cây chân bầu. Sau đó cho trâu bò ngựa uống nước sắc hoặc thóc ngâm cây dây ký ninh Tinospora crispa.
8–20 g/ngày, dùng dạng thuốc sắc hoặc hạt rang tán bột.
Không có thông tin lưu ý
Lá, vỏ thân, hạt, quả.
Platycladus orientalis
Trắc bách diệp (cành lá) có vị đắng chát, tính hơi hàn (hơi lạnh) và quy vào ba kinh: Tâm, Can và Đại tràng. Công năng chủ yếu của Trắc bách diệp là lương huyết, cầm máu, tiêu độc và thanh thấp nhiệt. Bá tử nhân (nhân hạt) có vị ngọt, tính bình, quy vào hai kinh Tâm và Tỳ. Công năng của Bá tử nhân là bổ tâm, bổ tỳ, định thần, chỉ hãn (cầm mồ hôi), nhuận táo và thông tiện. Công dụng nổi bật nhất của Bá tử nhân là an thần, giúp dưỡng tâm, trị chứng hồi hộp, mất ngủ.
Lá (axit isopimaric, axit sandaracopimaric, pinusolide và axit 15-methoxypinusolidic, quercetin, quercitrin, amentoflavone, myricetin, và hinokiflavon, cùng với các glycoside), rễ và tâm gỗ (sesquiterpene, cùng với l-borneol, bornyl axetat, α-thujone, camphor, cedrol và taxifolin), hạt (dầu béo và saponin).
Trắc bách diệp là một cây thân gỗ nhỏ có chiều cao trung bình từ 6-8 mét. Một trong những đặc điểm hình thái nổi bật nhất của loài cây này là thân cây phân nhiều nhánh, nhưng các nhánh lại mọc theo những mặt phẳng đứng, tạo nên một dáng cây hình tháp rất đặc trưng và đẹp mắt. Lá của cây có hình vảy, dẹt, mọc đối và ôm lấy cành thành bốn hàng, tạo nên một cấu trúc lá xếp chồng lên nhau độc đáo.
Về đặc điểm sinh lý và sinh thái, Trắc bách diệp là loài cây có tốc độ sinh trưởng tương đối nhanh. Cây có khả năng thích nghi tốt với điều kiện nhiệt độ từ 20-35 độ C, là loài cây ưa sáng và không chịu được điều kiện sống trong bóng râm.
- Trị khái huyết do cảm nhiễm phong tà: Sử dụng bài thuốc gồm Trắc bách diệp, lá sen tươi, cỏ nhọ nồi và lá ngải cứu, sắc lấy nước uống 2 lần mỗi ngày. - Trị đại tiện ra máu (trĩ, viêm trực tràng): Phối hợp Trắc bách diệp sao đen, hoa kinh giới sao đen, hoa hòe sao đen và chỉ xác. Các vị thuốc được tán nhỏ, rây kỹ và uống với nước đun sôi. - Trị chảy máu cam, băng huyết, tiểu tiện ra máu: Lá Trắc bách diệp tẩm giấm gạo rồi sao đen, nghiền thành bột mịn, mỗi lần uống 8-12g, ngày 2-3 lần. Một bài thuốc khác kết hợp lá Trắc bách diệp, lá ngải diệp, lá sen, địa hoàng và ngó sen. - Trị nôn ra máu lâu ngày: Sử dụng Trắc bách diệp sao cháy đen kết hợp với gừng và lá ngải cứu. Sắc lấy nước đặc uống hàng ngày. - An thần, dưỡng tâm, trị mất ngủ: Bá tử nhân có thể được dùng để trị các chứng bệnh này. Một bài thuốc cổ truyền phổ biến là Bá tử nhân nhồi vào tim lợn rồi hấp cách thủy để ăn. Ngoài ra, có thể kết hợp Bá tử nhân với Đương quy, nghiền thành bột và vo viên để uống hàng ngày. - An thần, nhuận tràng: Sử dụng Bá tử nhân sau khi sao qua và ép bỏ dầu, sau đó sắc chung với các vị thuốc như nhân táo, hạt gen và ích trí. - Trị rụng tóc do viêm da tiết bã: Lá Trắc bách diệp tươi xắt nhỏ, ngâm với cồn 60-75% trong khoảng 7 ngày. Lọc lấy nước và xoa bóp lên vùng da đầu bị rụng tóc. - Chữa râu tóc bạc sớm: Phối hợp lá Trắc bách diệp khô với Đương quy theo tỷ lệ 2:1, nghiền thành bột và vo viên để uống với nước muối nhạt. - Chống lão hóa, đẹp da: Hạt Bá tử nhân sao khô, tán bột, kết hợp với hoa cúc cũng được sao khô, tán bột. Pha với nước nóng và mật ong để uống. - Trị ho gà: Lá Trắc bách diệp tươi và nhánh con được sắc lấy nước, sau đó thêm mật ong và cho trẻ uống 3 lần/ngày. - Trị kiết lỵ: Hạt Bá tử nhân sau khi phơi khô, giã nát, hòa với nước đun sôi để nguội, chắt lấy nước uống 4-5 ngày liên tục. - Trị đầy bụng, đi ngoài phân xanh ở trẻ em: Hạt Trắc bách diệp phơi khô, tán bột mịn, mỗi ngày lấy một thìa cà phê hòa với nước cơm cho trẻ uống.
- Trắc bách diệp (cành lá): Liều dùng thông thường là 6-12g mỗi ngày dưới dạng thuốc sắc, hoàn tán. Trong một số bài thuốc đặc trị, liều có thể lên tới 30-50g. Khi dùng bột, mỗi lần uống 8-12g, ngày 2-3 lần. - Bá tử nhân (nhân hạt): Liều dùng hàng ngày là 4-10g dưới dạng thuốc sắc hoặc cao.
- Người tỳ vị hư hàn: Dược liệu có tính hơi hàn, do đó không phù hợp với những người có cơ địa dễ lạnh, đau bụng, tiêu chảy hoặc có nhiều đờm. Việc dùng lâu dài có thể gây rối loạn tiêu hóa và làm bệnh nền trầm trọng hơn. - Phụ nữ mang thai: Tuyệt đối không nên sử dụng Trắc bách diệp vì có thể gây kích thích tử cung, ảnh hưởng đến thai nhi và làm tăng nguy cơ sảy thai hoặc sinh non. - Người huyết áp thấp: Cần thận trọng khi dùng Trắc bách diệp trong thời gian dài vì thuốc có tác dụng hạ áp và giãn mạch, có thể làm huyết áp giảm sâu hơn. - Nguồn gốc dược liệu: Cần đảm bảo dược liệu có nguồn gốc rõ ràng, sạch, không bị ô nhiễm hóa chất hoặc kim loại nặng từ môi trường (như cây trồng ven đường, gần nghĩa trang). - Tương tác thuốc và thực phẩm: Khi đang sử dụng các thuốc điều trị tim mạch, an thần hoặc chống đông máu, cần hỏi ý kiến bác sĩ để tránh tương tác không mong muốn. Ngoài ra, không nên dùng chung Trắc bách diệp với các thực phẩm có tính hàn như đậu, rau củ, trái cây, sữa, kem vì có thể gây đầy hơi, khó tiêu, tiêu chảy hoặc đau bụng. - Thời gian sử dụng: Không nên dùng Trắc bách diệp liên tục quá 10 ngày nếu không có chỉ định từ thầy thuốc, vì dùng liều cao và kéo dài có thể gây mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa và ảnh hưởng đến chức năng gan.
Cành và lá non của cây (Trắc bách diệp), nhân hạt chín đã phơi khô (Bá tử nhân)
Nerium oleander
Vị đắng; tính hàn; có độc, tác động mạnh lên tim.
Cây Trúc đào
Trúc đào là một cây nhỡ, có thể cao tới 4-5m, mọc riêng lẻ hay có khi trống thành bụi. Cành mềm dẻo. Lá mọc đôi hay mọc vòng từng 3 lá một, thuộc loại lá đơn, mép nguyên, cuống ngắn, phiến lá hình mác, dài 7-20cm, rộng từ 1-4cm, dai cứng, mặt trên màu xanh thẫm, mặt dưới màu nhạt hơn, gân đều, song song ngang hai bên gân chính. Hoa màu hồng hay màu trắng, mọc thành xim ngù ở đầu cành. Quả gồm hai đại, gầy, trong chứa rất nhiều hạt có nhiều lông.
Tiêu thũng, lợi niệu, sát trùng, chữa ngoài da. Trong y học hiện đại, chứa glycosid tim (oleandrin) tương tự digitalis.
Chủ yếu dùng ngoài
Không có thông tin lưu ý
Lá, hoa, vỏ thân (có độc tính).
Ricinus communis
Tẩy nhẹ
40-50% dầu, 25% chất anbuminoit, rixin.
Mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi vùng nhiệt đới: Việt Nam (Hà Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Phú Thọ), Ấn Độ, bắc Châu Phi, Brazil,... Mùa thu hoạch hạt vào tháng 4-5, nhưng chủ yếu với mục đích ép dầu dùng trong công nghiệp. Làm thuốc chỉ dùng rất ít hạt và dầu. Lá hái quanh năm, thường chỉ dùng lá tươi.
Dầu thầu dầu dùng làm thuốc tẩy. Sau khi uống 2 giờ hãy uống nước. Trong kỹ nghệ, dầu thầu dầu dùng làm dầu máy bay, tổng hợp nước hoa, làm mềm da, chế sunforixinat dùng để in trên vải.
10-15g (trẻ con), 30-50g (người lớn).
Không có thông tin lưu ý
Lá, hạt.
Pouzolzia zeylanica
2.dùng làm thuốc mát và thông tiểu, thông sữa.
Cây Thuốc dòi
Loại cỏ có cành mềm, thân có lông. Lá mọc so le, có khi mọc đối có lá kèm, hình mác, hẹp, trên gân và 2 mặt đều có lông nhất là ở mặt dưới, lá dài 4-9cm, rộng 1,5-2,5cm. Có 3 gân xuất phát từ cuống. Cuống dài 5mm có lông trắng. Cụm hoa đơn tính mọc thành xim co, ở kẽ lá có các hoa không cuống. Quả hình trứng nhọn, có bao hoa có lồng.
1.dùng cây sắc hay nấu thành cao chữa bệnh ho lâu năm, ho lao, viêm họng. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.
Ngày dùng 10-20g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc cao.
Thành phần hoá học : Chưa thấy có tài liệu nghiên cứu.
Người ta hái toàn cây về dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô
Acorus gramineus
VỊ cay, tính ôn, vào hai kinh tầm và can.
Cây Thạch xương bồ
Thạch xương bồ là một loại cỏ sống lâu năm, có thân rễ mọc ngang, đường kính to bằng ngón tay, có nhiều đốt, trên có những sẹo lá. Lá mọc đứng hình dải, dài 30-50cm, rộng 2-6mm, chỉ có gân giữa Hoa mọc thành bông mo ở đầu một cán dẹt dài 10-30cm, cán này được phủ bởi một lá bắc, lá bắc này dài 7- 20cm, rộng từ 2-4mm vượt cao hơn cụm hoa rấ nhiều, làm cho cụm hoa trông như lệch sang một bên, dài từ 5-12cm, đường kính 2-4mm. Quả mọng màu đỏ nhạt, một ngăn, có thành gần như khô. Quanh hạt có một chất gồm nhầy
ùng làm thuốc bô, bổ dạ dày, giúp sự tiêu hóa. dùng chữa thần kinh suy nhược, kém tiêu hoá và Trẻ con sốt nóng nấu nước tắm khỏi.
Ngày dùng 4 đêh lOg dùng hàng ngày, kéo dài 1-2 tháng.Dùng ngoài làm thuốc trừ sâu bọ, chống chấy rận.
Không có thông tin lưu ý
Thân rễ được thu hái, rửa sạch, cắt bỏ rễ con và phơi khô
Herba Dendrobii
Vị ngọt, nhạt; tính hơi hàn; vào vị, thận, phế.
Các loài lan thuộc chi Dendrobium
Cây Thạch hộc hay hoàng thảo, hay huỳnh thảo-Dendrobium nobile Lindl. là một loài cây phụ sinh trên những cành cây thật cao, thân mọc thẳng đứng cao độ 0,3-0,6m, thần hơi dẹt, phía trên hơi dày hơn, có đốt dài 2,5-3cm, có văn dọc. Lá hình thuôn dài, phía cuống tù, gần như không cuống, ở đầu hơi cuộn hình món, dài 12cm, rộng 2-3cm trên có 5 gan dọc. Cụm hoa mọc thành thành chùm 2-4 hoa trên những cuống | dài 2-3cm. Hoa rất đẹp, to, màu hồng hay điểm hồng. Cánh môi hình bầu dục nhọn, dài 4-5cm, rộng 3 cm cuống thành hình phễu trong hoa, ở nơi họng hoa điểm màu tía.
Dưỡng âm, sinh tân, thanh nhiệt, ích vị.
6–12g/ngày, dùng tươi hoặc khô, sắc uống
Không có thông tin lưu ý
Thân
Camellia chrysantha
Không có thông tin dược tính
Cây trà hoa vàng
Chè hoa vàng là cây gỗ nhỏ hay cây bụi; nhánh mảnh, không lông. Lá có phiến thuôn, dài 11–14 cm, rộng 4–5 cm, không lông, mép có khía răng cưa nhỏ, gân bên khoảng 10 đôi; cuống lá dài 6–7 mm. Hoa mọc đơn độc trên cuống dài 7–10 mm; lá bắc 5. Lá đài 5; cánh hoa 8-10, màu vàng đậm, cao 3 cm; nhị nhiều; bầu nhụy không lông, vòi nhụy 3-4, dính nhau một phần. Quả nang to 3 cm, vỏ quả dày 3 mm. Sinh sống trong các khu rừng ẩm có độ cao dưới 500 m.
Không có thông tin bài thuốc
Không có thông tin liều lượng
Không có thông tin lưu ý
Không có thông tin bộ phận dùng
Cacalia procumbens Lour
Vị đắng, hơi ngọt; tính mát.
Cây Kim thất
Còn gọi là Trưởng Bất Lão, Kim Thất Hương. Tên khoa học Phytolacca esculenta Van Hout. Thuộc họ Thương lục Phytolaccaceae.
Thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết, hạ đường huyết, hạ huyết áp.
10–30g lá tươi/ngày, có thể ăn sống, ép nước uống hoặc sắc.
Không có thông tin lưu ý
Lá và toàn cây.
Piper betle
Kháng sinh
Belte-phenol, kèm theo một số hợp chất phenolic khác.
Cây trầu không được trồng ở khắp nơi trong nước để lấy lá ăn trầu. Nó còn được trồng tại nhiều nước khác ở châu Á, vùng nhiệt đới như Malaysia, Indonesia, Philippine.
Đơn thuốc dùng trầu không để chữa các vết lở loét, mụn nhọt, vết chàm của trẻ em mới đẻ. Lá trầu không tươi: 2-3 lá, cắt nhỏ, cho vào một cốc con. Dội nước sôi vào cho ngập lá. Làm như khi ta pha chè. Đợi chừng 10-15 phút cho chất thuốc trong lá trầu thôi ra nước. Ngày dùng 2 hoặc 3 lần.
2-3 lá.
Không có thông tin lưu ý
Lá
Caesalpinia sappan
Nước sắc tô mộc có tác dụng kháng sinh mạnh với nhiều vi khuẩn như Staphylococcus 209P, Salmonella typhi, Shigella flexneri, Shigella sonnei, Shigella dysenteriae, Bacillus subtilis. – Brasilin và brasilein có tác dụng kháng histamin, làm mạnh và kéo dài tác dụng của hormon thượng thận, ức chế men histidin decarboxylase. – Nước tô mộc liều thích hợp làm tăng co bóp tim ếch, tăng co mạch, tăng tác dụng của hormon thượng thận, ức chế tử cung cô lập của chuột nhắt. – Có tác dụng gây ngủ, liều cao có thể gây mê hoặc tử vong. – Đối kháng với tác dụng hưng phấn thần kinh do strychnin, cocain; tiêm có thể gây nôn mửa, tiêu chảy
Cây Tô mộc
Còn có tên là cây gỗ vang, cây vang nhuộm, cây tô phượng (do cây này mọc ở nước Tô Phượng, một nước cổ ở vùng hải đảo Trung Quốc). Tên khoa học Caesalpinia sappan L. Thuộc họ Vang Caesalpiniaceae.
1.Bài thuốc chữa kinh nguyệt không đều hoặc đẻ xong đau bụng từng cơn: Tô mộc lOg, huyền hổ sách 6g, sơn tra lOg, hồng hoa 3g, ngũ linh chi 8g, đương quy thân lOg, nước 600ml, sắc còn 200ml. Chia 3 lần uống trong ngày và Đẻ xong ra huyết nhiêu: Tô mộc 12g, sắc với 200ml nước còn 100ml. Chia 2 làn uống trong ngày.
Ngàý uống 6 - 12g, dưới dạng thuốc sắc.
Phụ nữ có thai không dùng được.
Người ta dùng gỗ chẻ mỏng phơi khô
Asparagus cochinchinensis (Lour.) Merr
cổ thiên môn đòng có vị ngọt, đắng, tính đại hàn, vào hai kinh phế và thận. Có tác dụng dưỡng ầm, nhuận táo, thanh nhiệt, hoá đờm. Dùng chữa phế ung hư lao, thổ huyết ho ra máu, tiêu khát, nhiệt bệnh tân dịch hao tổn, tiện bí.
Cây Thiên môn đông
Còn có tên là thiên môn, thiên đồng, dây tóc tiên.
Tên khoa học Asparagus cochinchinensis (Lour.) Merr. (Asparagus lucidus Lindl.).
Thuộc họ Hành Asparagaceae
Ta dùng rễ khô (Radix Asparagi) của cây thiên môn đồng.
Thiên môn đông là một loại dây leo, sống lâu năm. Dưới đất có rất nhiều rễ củ hình thoi mẫm. Thân mang nhiều cành 3 cạnh, dài nhọn, biến đổi, trông như lá. Lá rất nhỏ trông như vậy. Mùa hạ ở kẽ lá mọc hoa trắng nhỏ. Quả là một quả mọng màu đỏ khi chín.
Cao tam tài: Thuổc bổ toàn thán, bổ tinh khi, Lở mồm lâu năm và Ho đờm, thổ huyết, hơì thà ngắn
6–12g/ngày
Những người tỳ vị hư hàn, tiết tả không dùng được.
Bộ phận dùng chủ yếu là rễ khô. Rễ củ hái vổ, tẩm nước cho mềm (có khi người ta đồ chín cho mồm) rồi rút bỏ lõi, thái mỏng phơi hay sấy khô. Chú ý khi tẩm nước đừng ngâm lâu quá, tác dụng sẽ kém.
Homalomena occulta
thiên niên kiện vị đắng, cay, hơi ngọt tính ôn, vào 2 kinh can và thận.
Cây Thiên niên kiện
Còn gọi là sơn thục.
Tên khoa học Homalomena aromatica (Roxb). Schott (Calla aromatica Roxb). Homalomena occulta (lowa) Schott.
Thuộc họ Ráy Araceae.
Thiên niên kiện (Rhizoma Homalomenae) là thân rễ phơi hay sấy khổ của cây thiên niên kiện
Tên thiên niên kiện vì người ta cho rằng uống thuốc này thì nghìn năm khoẻ mạnh (thiên là nghìn,niên là năm, kiện là khoẻ mạnh).
Thiên niên kiện là một cây sống lâu năm, có thân rễ mập, màu xanh, đường kính 1-2cm. Lá mọc so le, có cuống dài từ 18 đến 25cm, màu xanh, mềm, nhẵn, phía dưới cuống nở rộng thành bẹ có màu vàng nhạt; phiến lá hình đầu mũi tên, dài 11-15cm, rộng 7-11cm, đầu nhọn, phía dưới hình cánh tên, mép nguyên, mặt trên lá có màu đậm hơn, hai mặt đều nhẵn, gân ở hai mép đều hướng về phía đỉnh lá. Cụm hoa mẫm nở vào tháng 3-4. Quả mọng.
là một vị thuốc nhàn dân dùng chữa tê thấp, bổ gân cốt, giảm đau nhức dùng trong bệnh người già bị đau người, đau dạ dày, đau khớp xương. Kích thích giúp sự tiêu hoá
Ngày dùng 5-10g dưới dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu.
Tên khoa học của thiên niên kiện có thể chưa thật chính xác. Theo Phạm Hoàng Hộ (1970, Cây cỏ miền nam Việt Nam, 2: 726) thì những cây được Gagnepain mô tả dưới tên Homalomena aromatica trong Thực vật chỉ Đông Dương (tập 6: 1114) là thuộc loại Homalomena occulta (Lour.) Schott,
Bộ phận dùng chủ yếu là rễ của cây. Sau khi thu hoạch, rễ được rửa sạch, bỏ rễ con, và sau đó phơi hoặc sấy khô.
Smilax glabra Roxb
thổ phục linh vị ngọt, nhạt, tính bình, vào 2 kinh can và vị. Có tác dụng khử phong thấp, lợi gân cốt, giải độc do thủy ngân. Chữa đau xương, ác sang ung thũng.
Cây Thổ phục linh
Còn gọi là củ khúc khắc, củ kim cang. Tên khoa học Smilax glabra Roxb. (Smilax hookeri Kunth). Thuộc họ Hành tỏi Liliaceae. Thổ phục linh (Rhizoma Smilacis) là thân rễ phơi hay sấy phổ của nhiều cây thuộc chi Smilax, trong đó có cây Smilax glabra.
dùng chữa bệnh vẩy nến (psoriasis)
Liều dùng hàng ngày 10-20g dưới dạng thuốc sắc. Có khi dùng với liều cao hơn.
Trong đông y và tây y đều còn dùng một số loại Smilax nữa nhu Smilax medica, Schlecht et. Cham, Smilax ornata Lem, Smilax officinalis H. B. K. v.v… làm thuốc tẩy độc cơ thể, ra mô hỏi, chữa giang mai. Với liều nhỏ, nó còn kích thích sự tiêu hoá, nhưng đối với liều quá cao nó có thể gây nôn mửa, biếng ăn v.v… Trong các loại Smilax dùng trong đông tây y. người ta đã nghiên cứu thấy các chất tinh bột, rất ít tinh dầu, nhựa và một số chất saponozit, như sacsaponin C45H47O17. Sacsaponin hay sacsaponozit có tinh thể, độ chảy 238-240°C, Chỉ –-66″ dễ tan trong nước, trong rượu nóng, rất khó tan trong ête, khi thủy phân cho glucoza và sacsapogenin có cấu trúc steroit, nếu thủy phân bằng axit clohydric 5% sẽ cho sacsapogenin, 2 phân tử glucoza và một phân tử rumnoza. Sacsapogenin cũng có tinh thể, độ chảy 199-19995C tan trong cổn hay axeton, có thể kết tủa với digitonin. Sacsapogenin là một nguyên liệu để tổng hợp hocmon và coctizon.
Đào lấy thân rễ, cắt bỏ rễ nhỏ rửa sạch, đang còn ướt thái mỏng (cho dễ thái), phơi khô
Amomum subulatum
thảo quả có vị cay, chát, tính ôn và không độc, vào hai kinh tỳ và vị
Còn gọi là Đồ Ho, Tò Ho, Mac Hậu, May Mac Hâu (Thái). Tên khoa học Amomum tsao-ko Crév. et Lem. (Amomum aromaticum Roxb. Amomum medium Lour.). Thuộc họ Gừng Zingiberaceae. Thảo quả (Fructus Amomi tsao-ko) là thảo quả chín và phơi hay sấy khô
Thảo quả là một loài cỏ sống lâu năm, cao chừng 2,5-3m, thân rễ mọc ngang, to thô, có đốt, đường kính chừng 2,5-4cm, giữa có màu trắng nhạt, phía ngoài màu hồng, thơm, mẫm, rất chóng thành xơ. Lá mọc so le, có lá có cuống ngắn, có lá không cuống, bẹ lá có khía dọc, phiến lá dài 0,60-0,70m, rộng tới 0,20m, nhẵn, mặt trên màu xanh sẫm, mặt dưới hơi mờ, mép nguyên. Cụm hoa thành bông mọc từ gốc, dài chừng 13-20cm, hoa màu đỏ nhạt. Quả từ 8 đến 17 trên mỗi bóng, khi chín có màu đỏ nâu dài khoảng 3-4cm, đường kính 2-3cm, khi còn tươi mặt bóng nhẵn, vỏ ngoài dày 5mm. Trong quả chia thành 3 ngăn, mỗi ngăn có chừng 7 hạt có áo hạt hình tháp ép vào nhau, rất thơm
Chữa hôi miệng: Thảo quả dã dập, ngậm vào thiêng, nuốt nước.hữa sốt, sốt rét, đặc hiệt dùng trong trường hợp sốt ít, rét nhiều, đại tiểu tiện nhiều quá, không ăn được.
Liều dùng hàng ngày: 3 đến 6g dùng riêng hay phố hợp với nhiều vị thuốc khác, sắc hay làm thành thuốc viên.
Theo đông y, phàm âm huyết không đủ mà không hàn thấp thực tà không nên dùng.
thảo quả chín và phơi hay sấy khô.
Melaleuca quinquenervia
"Mặc dù tỷ lệ xineol trong tinh dầu tràm thấp hơn trong tinh dầu bạch đàn giới thiệu sau đây nhưng người ta cho rằng tính chất sát trùng của tinh dầu tràm lại mạnh hơn tinh dầu bạch đàn, người lớn và trẻ con đều có thể dùng tinh dầu nguyên chất để xoa bóp; người lớn có thể uống tinh dầu với liều X (10) đến L (50) giọt nhỏ vào nước thêm đường mà uống."
cây Tràm
Còn gọi là cây chè cay, chè đồng, smach chanlos, -smach tachah (Campuchia), cajeputier (Pháp). Tên khoa học Melaleuca leucadendra L. Thuộc họ Sim Myrtaceae.
Ngâm rượu, tinh dầu
Có thể dùng dưới dạng ngâm rượu với tỷ lệ 1/5 với tên cồn khuynh diệp cùng một công dụng như trên với liều 2 đến 5g cồn một ngày. tinh dầu với liều X (10) đến L (50) giọt nhỏ vào nước thêm đường mà uống. Với tinh đầu tinh chế có thể chế thành thuốc tiêm với nồng độ 5-10 hoặc 20%. Ngày tiêm dưới da 1-2 ống chứa 0,10 đến 0,20g tinh dầu.
Không có thông tin lưu ý
Lá và cành non: Dùng tươi hoặc phơi khô để hãm, sắc uống, xông. Tinh dầu tràm: Cất từ lá và cành non, dùng nguyên chất hoặc tinh chế. Tinh dầu tràm tinh chế: Dùng trong các chế phẩm y học (xoa bóp, tiêm, nhỏ mũi).
Alisma plantago-aquatica L.var. Orientalis Samuelsson
thông tiểu tiện rất mạnh
Cây Trạch tả
Còn có tên là cây Mã Đề Nước. Tên khoa học Alisma plantago-aquatica L. var. orientalis Samuelsson. Thuộc họ Trạch tả Alismataceae. Trạch tả (Rhizoma Alismatis) là thân củ chế biến, phơi hay sấy khô của cây trạch tả (trạch=đầm, tả=tát cạn, vì vị này thông tiểu tiện rất mạnh như tát cạn nước đầm ao).
Chữa thủy thũng và Phục linh trạch tả thang.
huốc thông tiểu chữa bệnh thủy thũng trong bệnh viêm thận. Ngày dùng từ 10 đến 30g dưới dạng thuốc sắc hoặc dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.
Không có thông tin lưu ý
Hái lấy rễ củ, rửa sạch, cạo hết rễ nhô, phơi hoặc sấy khô.
Thevetia peruviana
ó vị đắng, tính mát, giúp thanh nhiệt, giải độc và thông kinh.
Cây Thông thiên
Còn gọi là hoàng hoa giáp trúc đào, laurier jaune, -noix de serpent, yellow oleander, bois à lait.Tên khoa học Thevetia neriifolia Juss. (Cerbera thevetia L., Cerbera peruviana Pers).Thuộc họ Trúc đào Apocynaceae.
Tả hạ mạnh, tiêu thũng, lợi thủy, trị sốt rét (dân gian).
Có loại chế thành thuốc tiêm, ược làm thuốc chữa tim dưới dạng dung dịch 1%, Iml tương ứng với 30 giọt và Img tevetin. Ngày uống tù 1 đến 2mg (30 đến 60 giọt một ngày) chia làm 2 hay 3 lần uống. Có thể dùng lâu vì thuốc không tích luỹ. Đóng thành từng chai 20ml.một hộp 6 ống, mỗi ống 2ml tương ứng với một mg tevetin. Ngày tiêm 1-2 ống (tiêm mạch máu).
Cây và thuốc chế từ thông thiên có chất rất độc; cần chú ý tránh gây ngộ độc.
Ta có thể dùng hạt, vỏ hay lá, nhưng chủ yếu là hạt.
Perilla frutescens (L.) Britt
Tía tô có vị cay, tính ấm, vào kinh Phế và Tỳ.
Cây Tía tô
Còn gọi là é lớn tròng, tía tô giới ballote camphrée.Tên khoa học Hyptis suaveolens (Linn). Poir. Thuộc họ Hoa môi Labiatae (Lamiacae).
Sâm tô ẩm: Chữa hênh cảm mạo, sốt, nhức đầu, đau các khớp xương,Tử tô giải độc thang: Chữa trúng độc đau bụng do ăn phải cua cá và Chữa sưng vú , Ăn phải cua hay cá mà trúng độc
5–15g/ngày, hạt khô, nguyên hoặc tán bột
Không có thông tin lưu ý
Thông thường lá tía tô (tô diệp) và Cành tía tô (tư tô tử), hạt tía tô
Acorus calamus L
Vị cay, đắng, tính ôn; vào tâm, vị
Cây Thủy xương bồ
Thủy xương bồ là vị thuốc quý dùng trong y học cổ truyền để kiện tỳ, hỗ trợ tiêu hóa, giảm đầy hơi, nôn mửa. Thân rễ có mùi thơm đặc trưng, thường được dùng phơi khô để bảo quản và sử dụng lâu dài.
Chữa các chứng hôn mê, thần trí mê muội, kinh giản, co giật. Trị đau bụng do lạnh, tiêu hóa kém, ăn uống không tiêu. Làm thuốc an thần, chữa suy nhược thần kinh, kém trí nhớ.
4–12g/ngày, dạng thuốc sắc hoặc bột
Không có thông tin lưu ý
Thân rễ
Polygala japonica Houtt
Viễn chí có vị đắng, tính ôn và vào kinh tâm, thận
Cây Viễn chí nhỏ
Viễn chí là vị thuốc an thần, ích trí, thường dùng trong các bài thuốc chữa mất ngủ, hay quên, hồi hộp, ho đờm nhiều. Đây là dược liệu quan trọng trong y học cổ truyền, có tác dụng an thần, khai khiếu, đồng thời cũng được nghiên cứu hiện đại chứng minh có khả năng bảo vệ thần kinh và hỗ trợ cải thiện trí nhớ.
viễn chí phối hợp với các vị thuốc khác dùng điều trị bệnh thần kinh suy nhược, hay quên, sợ hãi.Có tác dụng an thần, ích trí, tán uất hoá đờm, tiêu ung thũng. Dùng chữa hồi hộp, hay quên, hay sợ hãi, ho nhiều đờm, ung thư sưng thũng.
Liều dùng rễ viễn chú Ngày uống 2-5g dưới dạng thuốc sắc hoặc cao lỏng. Có thể dùng dưới dạng cổn viền chí. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 2-5ml, hoặc có thể dùng cao lỏng. Mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 0,5-2ml.
Những người thực hoả không dùng được.
Rễ khô của cây là bộ phận được sử dụng chủ yếu trong y học
Erythrina orientalis
-Tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương: làm yên tĩnh, gây ngủ, hạ nhiệt độ, hạ huyết áp. – Tác dụng co bóp các cơ. – Lá vông ít độc, thí nghiệm trên nhiều loài động vật không thấy hiện tượng ngộ độc. – Nước sắc 10% lá vông có tác dụng làm co cứng cơ chân ếch, co thắt cơ van, cơ hậu môn. – Vỏ cây có tác dụng chữa sốt, sát trùng, thông tiểu, an thần, gây ngủ, nhuận tràng.
Cây Vông nem
Còn có tên là hải đồng bì, thích đồng bì, vông nem.
Tên khoa học Erythrina orientalis (L.) Murr; Erythrina indica Lamk.; E. variegata L. var. orientalis (L.) Merr.
Thuộc họ Cánh bướm (Papilionaceae).
Bộ phận dùng: lá tươi hoặc phơi/sấy khô (Folium Erythrinae), hoặc vỏ thân phơi hay sấy khô (Cortex Erythrinae).
Cây cao 10–20 m, mọc nhiều ở ven biển, thân có gai ngắn, lá kép gồm 3 lá chét, hoa đỏ tươi, quả giáp dài 15–30 cm chứa 5–6 hạt màu đỏ hoặc nâu.
Thuốc chữa rắn cắn: Hạt hay vò vông nem thái nhỏ, đun với một ít nước thành bột nhão đắp lên chỗ rán cắn.Thuốc chữa mội số bệnh ngoài da: Vò vông nem, vó cây dâm bụt, sà sàng từ, rể chút chĩt. Tầt cã tán nhỏ, pha thành rượu 1/5. Dùng bói ngoài chữa các bệnh ngoài da.Chữa răng sâu: Tán nhỏ rắc vào nơi răng sâu.
– Rượu lá vông: dùng 1–2 g lá tươi mỗi ngày. – Xirô lá vông: uống 20 ml mỗi ngày trước khi ngủ. – Thuốc hãm hoặc thuốc sắc: ngày dùng 2–4 g lá. – Vỏ cây: dùng 6–12 g dưới dạng thuốc sắc.
Không có thông tin lưu ý
lá của cây
Heliotropium indicum L
Vị cay, hơi đắng, tính mát; vào can.
Cây vòi voi
Vòi voi còn gọi là Cẩu vĩ trùng, Đại vĩ đạo, tên khoa học Heliotropium indicum L., thuộc họ Vòi voi (Boraginaceae). Là cây cỏ mọc hoang phổ biến khắp nơi ở Việt Nam, thường gặp ở bờ ruộng, ven đường, bãi hoang.
vòi voi là một vị thuốc chữa tê thấp, viêm tấy, mụn nhọt, viêm họng, mẩn ngứa.
Ngày uống 15-20g tươi., Dùng ngoài là chủ yếu, cần thận trọng.
còn dùng làm thuốc điều kinh, nhưng liều quá cao có thể sẩy thai.
Toàn cây
Abelmoschus moschatus
Vị ngọt, hơi đắng; tính mát.
Cây vông vang
Vông vang còn gọi là Thứ ma, Hoàng ma, tên khoa học Abutilon indicum (L.) Sweet, thuộc họ Bông (Malvaceae). Là cây thảo hoặc cây bụi nhỏ, mọc hoang nhiều nơi ở nước ta, thường ven đường, bãi đất hoang, nương rẫy.
dùng làm thuốc ưấn kinh, chữa di tinh và thông tiểu.dùng chữa rắn cắn ,dùng để hồ giấy, hoặc chế tinh bột. Có khi được dùng làm thuốc bổ, thuốc mát thay sâm bố chính.
Ngày dùng 4 đến 6g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột.
Không có thông tin lưu ý
dùng hạt làm thuốc hay để chế tinh dầu dùng trong nước hoa. Chất nhầy trong rễ được dùng làm chất dính trong nghể giấy hay làm tính bột.
Belamcanda chinensis (L.) DC
Xạ can có vị đắng, tính hàn, với tác dụng thanh nhiệt, giải độc và làm dịu cơn co thắt.
Cây thảo sống nhiều năm, cao 0,5–1m; thân rễ mọc bò, lá mọc thành túp, hình kiếm, dài và hẹp giống lá quạt; hoa màu vàng cam có đốm đỏ, mọc ở ngọn thân; quả nang, hạt tròn đen.
Xạ can là một loại cỏ sống nhiều năm, thân rễ mọc bò, có lá mọc thẳng đứng, cao.
Bài thuốc dùng Xạ can ở dạng sắc hoặc bột, thường phối hợp với các vị thuốc khác để tăng cường tác dụng giải độc, giảm đau và làm dịu co thắt.Một số bài thuốc kết hợp Xạ can nhằm hỗ trợ điều trị các chứng viêm dạ dày, tiêu chảy hoặc các rối loạn tiêu hóa
Trong các bài thuốc, liều lượng Xạ can thường được chỉ định cụ thể – ví dụ, một số bài thuốc có thể dùng từ 3 đến 5g Xạ can dạng bột cho mỗi liều, hoặc được phối trộn theo tỷ lệ nhất định với các vị thuốc khác
Không có thông tin lưu ý
bộ phận được sử dụng của Xạ can là phần nhựa hoặc vỏ
Clerodendrum japonicum (Thunb.) Sweet
vị đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, chỉ thống (giảm đau). lỵ cấp tính, viêm ruột và dạ dày, cảm mạo, phát sốt, viêm họng, amiđan, viêm phổi, dùng ngoài chữa rắn độc cắn, xương khớp đau nhức.
Cây xích đồng nam
Còn gọi là Nguyễn Cộng, Lam Khái Liên, Khổ Đảm Thảo, Xuyên Tâm Liên, Roi Des Gamers (Pondichery Hồi Thuộc Pháp)-Green Chireta (Anh).
Rượu bổ kariyât, Thuốc hãm bổ
Ngày dùng từ 10 đến 20g toàn cây dưới dạng thuốc sắc. Nếu tán bột thì mỗi lần uống 2 đến 4g bột, ngày uống 2–3 lần. Dùng ngoài không kể liều lượng, đắp lên những vết sưng tấy.
Không có thông tin lưu ý
Người ta dùng rễ hay toàn cây phơi hoặc sấy khô. Có nơi chỉ dùng lá và cành mang lá. Mùa hè dùng lá và phần trên mặt đất của cây, mùa thu đông dùng rễ và toàn cây.
Mangifera indica
Không có thông tin dược tính
Thịt quả chiếm 60–70%, chứa nhiều chất bột, chất đường 16–20%, gôm, axit hữu cơ chủ yếu là axit xitric, caroten cao, vitamin C và B. Hạt xoài có vị đắng, chát, chứa nhiều axit galic tự do. Vỏ thân chứa mangiferin ~3% và tanin. Lá chứa khoảng 1,6% mangiferin và một chất độc chưa xác định
Xoài có nguồn gốc ở các nước nhiệt đới châu Á, hiện được trồng phổ biến ở khắp các nước nhiệt đới; tại miền Nam nước ta xoài được trồng rất phổ biến và tại miền Bắc cũng đã trồng ở một số tỉnh. Ngoài quả, người ta còn dùng vỏ thân, nhựa thân, hạt và lá làm thuốc.
Vỏ quả xoài chín và quả xoài có tác dụng cầm máu tử cung, khái huyết, chảy máu ruột dưới dạng cao lỏng; dùng 10g cao lỏng pha 120ml nước, mỗi 1–2 giờ uống 1 thìa cà phê. Nhân xoài sấy khô tán bột dùng làm thuốc giun với liều 1,5–2g. Ở Philippines, dùng 20–25g nhân với 2 lít nước, nấu cạn, thêm đường và dùng 50–60g thuốc/ngày. Vỏ thân xoài tươi giã vắt lấy nước dùng như vỏ quả; vỏ khô đắp nóng ngoài khớp xương hoặc rửa khí hư bạch đới; tại miền Bắc, vỏ xoài sắc uống chữa sốt hay chữa đau răng (ngậm rồi nhổ). Nhựa vỏ cây xoài hòa nước chanh bôi ghẻ. Lá xoài nấu canh lươn ăn bổ (chỉ mô tả ăn, không dùng thuốc).
Không có thông tin liều lượng
Lá già chứa một lượng nhỏ chất độc; nếu cho trâu bò ăn lâu ngày có thể gây ngộ độc chết trâu bò
Quả, vỏ thân, nhựa thân, hạt và lá
Andrographis paniculata (Burm.f.) Nees
Xuyên tâm liên có vị đắng, với tính hàn – giúp thanh nhiệt, giải độc và hỗ trợ điều trị một số chứng rối loạn nội tạng, đặc biệt là liên quan đến hệ tim mạch và tiêu hóa.
Cây xuyên tâm liên
Xuyên tâm liên là một loại dược liệu quý giá trong y học cổ truyền, được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau theo vùng miền. Cây có nguồn gốc từ các vùng nhiệt đới, nơi điều kiện sinh trưởng thuận lợi giúp tích tụ các hoạt chất dược lí quý. Nhờ vào đặc điểm hình thái nhận dạng, như bộ lá xanh mát, hoa nhỏ và hệ thống rễ phát triển mạnh, Xuyên tâm liên được phân biệt rõ với các loại dược liệu khác.
ùng Xuyên tâm liên ở dạng sắc hoặc bột, phối hợp với các vị thuốc khác để điều trị các chứng như rối loạn tim mạch, viêm nhiễm nội tạng hay các rối loạn tiêu hóa.
Liều lượng sử dụng của Xuyên tâm liên phụ thuộc vào từng bài thuốc cụ thể. Thông thường, liều dùng ở dạng sắc hoặc bột dao động từ 5 đến 10g cho mỗi liều
Không có thông tin lưu ý
Phần chính được sử dụng của Xuyên tâm liên là rễ. Trong một số bài thuốc, tùy theo mục đích điều trị, có thể kết hợp sử dụng với lá hoặc thân nhằm tăng cường hiệu quả dược lý.
Coix lacryma-jobi L
Vị ngọt, tính hơi hàn vào 3 kinh tì, vị và phế. Có tác dụng kiện tỳ bổ phế, thanh nhiệt thẩm thấp. Dùng chữa thủy thũng cước khí tiết từ, phế ung, phế nuy.
cây Ý dĩ
Ý dĩ, còn gọi là bo bo, dĩ mễ, tên khoa học Coix lacryma-jobi L. var. ma-yuen (Roman.) Stapf, thuộc họ Hòa thảo (Poaceae). Đây là cây thân thảo, sống một năm, cao 1–1,5m, có hình dáng giống ngô. Ý dĩ được trồng nhiều ở nước ta để làm thực phẩm và thuốc.
Ý dĩ 20g, nước 600ml, sắc còn 200ml. Uống liên tục đến khi thấy tiểu tiện bình thường là được. Ý dĩ 40g, nước 400ml (2 bát) sắc còn 1 bát (200ml) thêm ít rượu vào uống làm hai lần trong ngày. Uống luôn 10 ngày. Ý dĩ 5g, mạch môn đồng 3g, tang bạch bì 3g, bách bộ 3g, thiên môn đông 3g, nước 600ml. Sắc còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày. Ý dĩ nhân 40g, phổ thục linh 20g, nước 600ml sắc còn 200ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống liền 10 ngày nếu thấy tiểu tiện nhiều là bệnh giảm.
Ngày uống 8-30g dưới dạng thuốc sắc. Dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.
Không có thông tin lưu ý
Nhân ý dĩ